Tin chỉ đạo điều hành
 
Nhằm phục vụ nhu cầu đi lại của hành khách trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Sửu 2009, Sở Giao thông -Vận tải vừa chấp thuận cho HTX Vận tải 19-5 điều chỉnh lộ trình tuyến xe buýt từ Ngã ba Bình Mỹ ( Củ Chi, TP.HCM ) đến Khu Du lịch Lạc Cảnh Đại Nam văn hiến ( Bình Dương) từ ngày 26-1 đến 9-2-2009 như sau
 
 

Tối 16/1, gần 2.000 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tỉnh Bình Dương đã có có một đêm đón xuân Kỷ Sửu 2009 thật ấm áp và hạnh phúc tại Khu du lịch Lạc Cảnh - Đại Nam - Văn Hiến.

 
 
Tối 16/1, gần 2.000 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tỉnh Bình Dương đã có có một đêm đón xuân Kỷ Sửu 2009 thật ấm áp và hạnh phúc tại Khu du lịch Lạc Cảnh - Đại Nam - Văn Hiến.
 
 
(LĐ) - Tối 18.1, tại KCN Bình Đường (Dĩ An, Bình Dương), hàng nghìn CN đã chung vui đón Tết sớm trong chương trình văn nghệ mừng xuân và phát quà tết cho CN LĐ có hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện về quê ăn Tết - do Quỹ Tấm Lòng vàng (TLV) Lao Động phối hợp với LĐLĐ tỉnh, UBMT Tổ quốc, Sở VHTTDL tỉnh Bình Dương tổ chức.
 
 
(LĐ) - Tối 18.1, tại KCN Bình Đường (Dĩ An, Bình Dương), hàng nghìn CN đã chung vui đón Tết sớm trong chương trình văn nghệ mừng xuân và phát quà tết cho CN LĐ có hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện về quê ăn Tết - do Quỹ Tấm Lòng vàng (TLV) Lao Động phối hợp với LĐLĐ tỉnh, UBMT Tổ quốc, Sở VHTTDL tỉnh Bình Dương tổ chức.
 
 
(Chinhphu.vn) - "Các Bộ và các cơ quan hữu quan cần tăng cường phối hợp trong triển khai công tác, đặc biệt có sự gắn kết chặt chẽ và kịp thời về trao đổi thông tin giữa phái đoàn đại diện của ta ở nước ngoài và trong nước. Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, các Bộ cũng cần quan tâm thỏa đáng đến việc bảo vệ sản xuất trong nước một cách hợp lý, nâng cao vai trò tham mưu tư vấn cho Chính phủ và phòng chống các rủi ro thương mại, nhất là các vụ kiện chống bán phá giá cũng như hàng rào kỹ thuật".
 
 
(Chinhphu.vn) - "Các Bộ và các cơ quan hữu quan cần tăng cường phối hợp trong triển khai công tác, đặc biệt có sự gắn kết chặt chẽ và kịp thời về trao đổi thông tin giữa phái đoàn đại diện của ta ở nước ngoài và trong nước. Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, các Bộ cũng cần quan tâm thỏa đáng đến việc bảo vệ sản xuất trong nước một cách hợp lý, nâng cao va...
 
 

Ngày 19/1, Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa–Thành cổ Hà Nội đã chính thức gửi hồ sơ đề nghị công nhận Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hoá thế giới.

 
 
Ngày 19/1, Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa–Thành cổ Hà Nội đã chính thức gửi hồ sơ đề nghị công nhận Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hoá thế giới.
 
Ra mắt Phòng đọc Địa chí (22/01/2009 08:20:34)
 

Thư viện tỉnh vừa đưa vào phục vụ Phòng đọc Địa chí. Phòng đọc Địa chí đã có 1.214 tài liệu trước năm 1975; 8.186 tài liệu sau năm 1975 và 367 ảnh.

 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Tin liên quan
  
  
Phân loại
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
Bình Dương tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16Bình Dương tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16

​TTĐT - UBND tỉnh vừa ban hành văn bản tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Chỉ thị 16) và thực hiện "xanh hóa" địa bàn.

Theo đó, tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội trên phạm vi các thành phố, thị xã Thủ Dầu Một, Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên kể từ 0 giờ ngày 01/9/2021 đến hết ngày 15/9/2021 theo Chỉ thị 16 và thực hiện áp dụng hạn chế tối đa việc lưu thông, hoạt động trong khung thời gian từ 18 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau. Đồng thời, tiếp tục thực hiện tăng cường giãn cách xã hội trên địa bàn 15 phường thuộc các thành phố Thuận An, Dĩ An và thị xã Tân Uyên trong thời gian nêu trên.

Cùng với đó, tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội trên phạm vi các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo kể từ 0 giờ ngày 01/9/2021 đến hết ngày 05/9/2021 theo Chỉ thị 16; không thực hiện áp dụng hạn chế tối đa việc lưu thông, hoạt động trong khung thời gian từ 18 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau.

Sau ngày 05/9/2021, căn cứ diễn biến dịch bệnh Covid-19 trên từng địa bàn, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh sẽ xem xét, chỉ đạo thực hiện các hình thức giãn cách xã hội và biện pháp phòng, chống dịch cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

Các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 cấp huyện, cấp xã theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 tỉnh và Chỉ thị số 14/CT-UBND ngày 24/08/2021 của UBND tỉnh. Trong đó tăng cường thực hiện nghiêm, triệt để, dứt khoát việc giãn cách xã hội theo tinh thần "ai ở đâu ở đó"; tuyệt đối không để xảy ra các trường hợp tập trung đông người, không để tình trạng người dân di chuyển, ra đường gia tăng trong kỳ nghỉ Lễ Quốc khánh 02/9; xử lý nghiêm theo pháp luật các trường hợp vi phạm quy định về phòng, chống dịch bệnh. Đồng thời, tổ chức tốt công tác đảm bảo an sinh xã hội, an ninh trật tự để người dân tự giác, yên tâm tham gia hỗ trợ công tác phòng, chống dịch bệnh; tuyệt đối không để đứt gãy chuỗi cung ứng an sinh, bảo đảm tiếp cận y tế từ sớm, từ xa, từ cơ sở trong thời gian nghỉ lễ và thực hiện giám sát xã hội.

Các địa phương chủ động chuẩn bị phương án đối phó với tình hình dịch bệnh và áp dụng biện pháp phòng, chống dịch ở "mức cao hơn" và không được "chậm hơn" khi xử lý tình huống. Khẩn trương thực hiện quyết liệt, đồng bộ các biện pháp để giảm mạnh "vùng đỏ", "xanh hóa" địa bàn, xây dựng và bảo vệ "vùng xanh", sớm đưa các địa phương về trạng thái "bình thường mới", trong đó 04 địa phương (Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) đến ngày 05/9/2021; 02 địa phương (Thủ Dầu Một, Bến Cát) đến ngày 10/9/2021; 03 địa phương (Dĩ An, Thuận An, Tân Uyên) đến ngày 15/9/2021.

Trường hợp để xảy ra tình trạng lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, không chấp hành nghiêm các quy định, hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh người đứng đầu cấp ủy, chính quyền của đơn vị, địa phương đó sẽ bị xử lý trách nhiệm theo quy định. 

Văn bản ​

8/31/2021 8:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtBình Dương, tiếp tục, thực hiện, giãn cách, xã hội, Chỉ thị 16663-binh-duong-tiep-tuc-thuc-hien-gian-cach-xa-hoi-theo-chi-thi-1Thông tin chỉ đạo, điều hànhTrueĐoan Trang
676.00
121,000
0.00
121000
0
Điều chỉnh Đề án quy hoạch karaoke, vũ trường trên địa bàn tỉnh Bình DươngĐiều chỉnh Đề án quy hoạch karaoke, vũ trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương
          
TTĐT - Ngày 30 tháng 11 năm 2012, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 3325/QĐ-UBND về việc "Điều chỉnh Đề án quy hoạch karaoke, vũ trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020".
              
Quyết định ban hành kèm theo Quyết định số 854/QĐ-UBND ngày 21/3/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương với nội dung điều chỉnh tại phần 4, mục IV của  Đề án: cơ sở kinh doanh karaoke được cấp phép tối đa không quá 06 cơ sở/ấp, 10 cơ sở/khu phố, thay vì trước đây đã quy định "cơ sở kinh doanh được cấp phép không quá số lượng 05 cơ sở/ấp, khu phố (03 cơ sở/ấp, 05 cơ sở/khu phố)".
 
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm hướng dẫn các sở, ngành, đơn vị có liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố Thủ Dầu Một triển khai thực hiện việc điều chỉnh này nhằm đảm bảo các cơ sở hoạt động kinh doanh karaoke trên địa bàn tỉnh chấp hành tốt quy định hiện hành.
           
Hoài Hương
12/3/2012 3:35 AMĐã ban hànhTinXem chi tiết955-Dieu-chinh-De-an-quy-hoach-karaoke-vu-truong-tren-dia-ban-tinh-Binh-DuongThông tin chỉ đạo, điều hành
Điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án Nâng cấp, mở rộng đường phân khu ĐX144 (phường Tương Bình Hiệp, TP.Thủ Dầu Một)Điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án Nâng cấp, mở rộng đường phân khu ĐX144 (phường Tương Bình Hiệp, TP.Thủ Dầu Một)

TTĐT - ​HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án Nâng cấp, mở rộng đường phân khu ĐX144, phường Tương Bình Hiệp, TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh Bình Dương khóa X, Kỳ họp thứ tư (chuyên đề) thông qua ngày 25/4/2022 và có hiệu lực kể từ ngày thông qua.

Theo đó, bổ sung quy mô đầu tư hạ tầng kỹ thuật phần thu hồi trong vùng phụ cận theo đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 của dự án đã được phê duyệt tại Quyết định số 4456/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND TP.Thủ Dầu Một với tổng mức đầu tư dự án 1.040 tỷ 800 triệu đồng.

Cơ cấu nguồn vốn: Vốn ngân sách tỉnh hỗ trợ là 929 tỷ 400 triệu đồng; vốn ngân sách TP.Thủ Dầu Một là 111 tỷ 400 triệu đồng.

Các nội dung khác thực hiện theo Nghị quyết số 26/NQ-HĐND ngày 30/11/2018 của HĐND tỉnh về chủ trương đầu tư và điều chỉnh chủ trương đầu tư một số dự án đầu tư công.

Nghị quyết 01/NQ-HĐND 

4/28/2022 10:00 AMĐã ban hànhTinXem chi tiếtĐiều chỉnh, chủ trương, đầu tư, dự án, Nâng cấp, mở rộng, phân khu, ĐX144, phường Tương Bình Hiệp, TP.Thủ Dầu Một717-dieu-chinh-chu-truong-dau-tu-du-an-nang-cap-mo-rong-duong-phan-khu-dx144-phuong-tuong-binh-hiep-tp-thu-dau-motThông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
206.00
121,000
0.00
121000
0
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2009Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2009

(TTĐT) Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nền kinh tế lớn suy thoái, sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn, thách thức, song nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Đảng, Chính phủ nên những giải pháp và chính sách được Chính phủ đề ra nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, ngăn ngừa lạm phát và bảo đảm an sinh xã hội đã bước đầu phát huy tác dụng, kinh tế-xã hội nước ta 5 tháng đầu năm 2009 phát triển theo hướng tích cực và có dấu hiệu sớm phục hồi.

Tình hình cụ thể của từng ngành và lĩnh vực như sau:
I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
a. Nông nghiệp
Trọng tâm sản xuất nông nghiệp trong tháng5làchăm sóc,thu hoạch lúa đông xuân trên cả nước và xuống giống lúa hè thu ở các địa phương phía Nam. Tính đến trung tuần tháng 5/2009, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 1844,1 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,7% cùng kỳ năm trước, năng suất ước tính đạt 62 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản l­ượng đạt 11,8 triệu tấn, tăng 214,8 nghìn tấn. Các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đã cơ bản thu hoạch xong lúa đông xuân, năng suất ước tính đạt 63,6 tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 9,9 triệu tấn, xấp xỉ vụ đông xuân 2008. Năng suất lúa đông xuân toàn vùng giảm chủ yếu do một số địa phương thay đổi cơ cấu giống lúa theo hướng giảm diện tích trồng lúa năng suất cao nhưng chất lượng gạo thấp, khó xuất khẩu (IR 50404, OM 576.v.v) sang gieo trồng giống lúa năng suất tuy thấp hơn nhưng chất lượng gạo tốt, dễ xuất khẩu (VNĐ 95-20, OM 2717, OM 2517.v.v...). Sản lượng lúa đông xuân vùng Duyên hải Nam Trung Bộ ước tính đạt 1 triệu tấn, tăng 172,6 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước, trong đó một số tỉnh đạt sản lượng tăng cao là: Quảng Nam tăng 39 nghìn tấn; Quảng Ngãi tăng 34,9 nghìn tấn; Phú Yên tăng 45,3 nghìn tấn; Khánh Hoà tăng 38,5 nghìn tấn.
Diện tích gieo trồng lúa đông xuân của các tỉnh phía Bắc đạt 1147,9 nghìn ha, tăng 1,6% so với vụ đông xuân 2008. Hiện nay, lúa đang phát triển tốt; theo đánh giá ban đầu của các địa phương, nếu thời tiết thuận lợi và sâu bệnh phát sinh ít thì năng suất lúa đông xuân miền Bắc sẽ đạt xấp xỉ vụ đông xuân 2008.
Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đang tập trung gieo sạ lúa hè thu. Tính đến trung tuần tháng 5/2009, diện tích lúa hè thu gieo sạ đạt 1344,6 nghìn ha, bằng 99,7% cùng kỳ năm trước; trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long 1191,7 nghìn ha, bằng 100,8%.
Ngoài việc tập trung gieo cấy và thu hoạch lúa, các địa phương tiếp tục gieo trồng cây màu vụ hè thu. Tính đến 15/5/2009, diện tích gieo trồng ngô cả nước đạt 715 nghìn ha, bằng 100,7% cùng kỳ năm trước; sắn 250,9 nghìn ha, bằng 98,5%; khoai lang 99,4 nghìn ha, bằng 95,8%; lạc 194,5 nghìn ha, bằng 102,5%; rau đậu 501,2 nghìn ha, bằng 101,1%.
Chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2009 phát triển ổn định và có xu hướng tăng, đặc biệt là đàn gia cầm. Đàn bò ước tính tăng 1-2% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn tăng 2-3%; đàn gia cầm tăng 7-8%. Dịch bệnh trên gia súc, gia cầm đã cơ bản được khống chế. Tính đến ngày 21/5/2009, dịch bệnh chưa qua 21 ngày còn ở 4 tỉnh là: Dịch cúm gia cầm ở Vĩnh Long và Đồng Tháp; dịch lở mồm long móng ở Gia Lai; dịch tai xanh ở Bắc Giang. Để làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, cùng với việc tiến hành tiêm phòng vacxin cúm gia cầm đợt I năm 2009, các ngành chức năng cần tích trong việc triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm ngăn ngừa dịch bệnh lây lan.
b. Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng tập trung cả nước 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 45,8 nghìn ha, bằng 100,4% cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 89,5 triệu cây, bằng 97,7%; sản lượng gỗ khai thác đạt 920 nghìn m3, bằng 103,4%. Công tác kiểm lâm mặc dù được quan tâm và tăng cường nhưng hiện tượng cháy rừng, chặt phá rừng vẫn diễn ra ở một số nơi. Trong 5 tháng đầu năm 2009, diện tích rừng bị thiệt hại 1134,3 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy 523,4 ha. Các địa phương có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Lạng Sơn 142,8 ha, Yên Bái 136,8 ha, Bình Thuận 51,8 ha. Một số tỉnh có diện tích rừng bị chặt phá nhiều là: Lâm Đồng 240,7 ha, Bình Phước 188 ha và Đắk Nông 72,8 ha.
c. Thủy sản: Tổng sản lượng thuỷ sản 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 1736,6 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó cá đạt 1334,3 nghìn tấn, tăng 4%; tôm 149,6 nghìn tấn, tăng 3,8%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 748,2 nghìn tấn, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2008 do giá thức ăn thủy sản tăng, người nuôi cá tra gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn vay hỗ trợ lãi suất của Nhà nước nên chưa yên tâm mở rộng diện tích thả nuôi. Sản lượng thủy sản khai thác 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 988,4 nghìn tấn, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 911,7 nghìn tấn, tăng 9%. Thời tiết thuận lợi cho khai thác cá ngừ đại dương nên sản lượng tăng khá so với cùng kỳ năm 2008, trong đó Phú Yên đạt 3,7 nghìn tấn, tăng 13,7%; Bình Định 3,2 nghìn tấn, tăng 37%.
2. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp đang ổn định và có xu hướng tăng hơn những tháng đầu năm. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 5/2009 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn các mức tăng của 4 tháng đầu năm. Một số sản phẩm chủ yếu có sản lượng tăng cao là: Điều hoà nhiệt độ tăng 56,4%; thép tròn tăng 49,5%; máy giặt tăng 31,9%; giày, dép, ủng bằng da giả tăng 29,9%; dầu thô khai thác tăng 22,9%; khí hoá lỏng tăng 18,8%; xi măng tăng 14,9%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 10,1%.
 Tính chung 5 tháng đầu năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế Nhà nước giảm 0,1% (Trung ương quản lý tăng 1,3%; địa phương quản lý giảm 4,8%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 7,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,7% (dầu mỏ và khí đốt tăng 15,8%, các sản phẩm khác tăng 2,1%). Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp quan trọng có dấu hiệu phục hồi và tăng khá trong 5 tháng đầu năm 2009 là: Dầu thô khai thác tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước; xi măng tăng 17,4%; điều hoà nhiệt độ tăng 17,3%; thép tròn tăng 13,2%; tủ lạnh, tủ đá tăng 12,5%; thuốc lá điếu tăng 10,7%; giày, dép, ủng bằng da giả tăng 10,2%; xà phòng giặt tăng 8,7%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 8,6%; bia tăng 7,4%; nước máy thương phẩm tăng 7,1%; điện sản xuất tăng 5,7%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm 2008 như: Than đá giảm 6,8%; thuỷ hải sản chế biến giảm 8,2%; phân hoá học giảm 13%; đường kính giảm 18,4%; gạch lát ceramic giảm 23,6%; vải dệt từ sợi bông giảm 26,1%; quần áo người lớn giảm 19,9%; xe chở khách giảm 31,4%.
Giá trị sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2009 của một số địa phương có qui mô sản xuất lớn vẫn giữ được ổn định và đạt tốc độ tăng cao hơn nhiều mức tăng chung của cả nước như: Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 10,5%; Quảng Ninh tăng 10,3%; Khánh Hoà tăng 7,2%; Đồng Nai và Cần Thơ cùng tăng 6,9%; Hải Phòng tăng 6,7%; Thanh Hoá và Bình Dương cùng tăng 5,1%. Một số địa phương có giá trị sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm nay giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước như: Hải Dương giảm 4,9%; Đà Nẵng giảm 4,2%; Phú Thọ giảm 11,3%; Vĩnh Phúc giảm 14,2%; Hà Nội tăng 4,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,4%.
3. Đầu tư
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện tháng 5/2009 ước tính đạt 8,7 nghìn tỷ đồng, bằng 7,7% kế hoạch năm, bao gồm: Vốn trung ương đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, bằng 7%; vốn địa phương đạt 6,2 nghìn tỷ đồng, bằng 8%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2009, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện 37,4 nghìn tỷ đồng, bằng 33,2% kế hoạch năm, gồm có:
- Vốn trung ương quản lý đạt 11,4 nghìn tỷ đồng, bằng 32,3% kế hoạch năm, trong đó: Vốn đầu tư thực hiện của Bộ Công Thương đạt 125,1 tỷ đồng, bằng 52,6% kế hoạch năm; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 281,8 tỷ đồng, bằng 52,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 324,5 tỷ đồng, bằng 42,3%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 1176,7 tỷ đồng, bằng 39,8%; Bộ Y tế 365 tỷ đồng, bằng 36,1%;  Bộ Xây dựng 129,4 tỷ đồng, bằng 30,4%; Bộ Giao thông Vận tải 1787,6 tỷ đồng, bằng 29,3%.
- Vốn địa phương quản lý đạt 26 nghìn tỷ đồng, bằng 33,6% kế hoạch năm, trong đó một số địa phương có tiến độ thực hiện nhanh là: Hòa Bình đạt 535,2 tỷ đồng, bằng 55,3% kế hoạch năm; An Giang 329,3 tỷ đồng, bằng 55,1%; Bắc Ninh 444,1 tỷ đồng, bằng 52%; Quảng Trị 384,1 tỷ đồng, bằng 50%; Hải Phòng 664 tỷ đồng, bằng 42,5%.
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20/5/2009 đạt 6,7 tỷ USD, giảm 76,3% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: Vốn đăng ký 2,7 tỷ USD của 256 dự án được cấp phép mới (giảm 89,2% về vốn và giảm 60,5% về số dự án so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung 4 tỷ USD của 40 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 2,8 tỷ USD, giảm 29,1% so với cùng kỳ năm 2008.
Nguồn vốn ODA được ký kết 5 tháng đầu năm 2009 thông qua các Hiệp định với nhà tài trợ đạt 1,5 tỷ USD, bao gồm: Vốn vay đạt 1,4 tỷ USD; vốn viện trợ không hoàn lại đạt 19,5 triệu USD. Tổng giá trị giải ngân vốn ODA 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 720 triệu USD, bằng 38% kế hoạch năm, bao gồm: Vốn vay đạt 649 triệu US (549 triệu USD vay ưu đãi, 100 triệu USD vay thương mại); vốn viện trợ không hoàn lại đạt 71 triệu USD.
4. Thương mại, dịch vụ
a. Bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 452,3 nghìn tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2008, nếu loại trừ yếu tố giá thì tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2009 tăng 8,4%. Trong tổng số, kinh doanh thương nghiệp đạt 354,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 78,4% tổng số và tăng 21,9%; khách sạn nhà hàng đạt 51,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,4% và tăng 19%; dịch vụ đạt 41,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,2% và tăng 16,5%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2009 của hai thành phố lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh ước tính đạt 160,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,4% tổng số cả nước, bao gồm Hà Nội đạt 57 nghìn tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh đạt 103,3 nghìn tỷ đồng, tăng 17,8%.
b. Giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2009 tăng 0,44% so với tháng trước, trong đó nhóm phương tiện đi lại và bưu điện tăng cao nhất với 1,8% (Bưu chính viễn thông tăng 1,92%), chủ yếu do ảnh hưởng của giá xăng dầu tăng từ ngày 08/5/2009 và giá cước bưu chính tăng từ ngày 01/5/2009 theo Thông tư số 13/2009/TT-BTTTT ngày 30/3/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông về giá cước bưu chính phổ cập, sẽ áp dụng từ 01/5/2009. Các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng nhẹ ở mức dưới 1%, gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,97%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,51%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,31%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,26%; hai nhóm dược phẩm, y tế và hàng ăn và dịch vụ ăn uống đều tăng 0,18% (Lương thực giảm 0,37%; thực phẩm tăng 0,36%); giáo dục tăng 0,04%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,03%. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2009 tăng 5,58% so với cùng kỳ năm 2008 và tăng 2,12% so với tháng 12/2008. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng/2009 tăng 11,59% so với 5 tháng/2008.
Chỉ số giá vàng tháng 5/2009 tăng 0,61% so với tháng trước; tăng 13,04% so với cùng kỳ năm 2008 và tăng 17,88% so với tháng 12/2008. Chỉ số giá vàng bình quân 5 tháng/2009 tăng 7,12% so với 5 tháng/2008. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,25% so với tháng trước, tăng 11,46% so với cùng kỳ năm 2008 và tăng 5,18% so với tháng 12/2008. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân 5 tháng/2009 tăng 10,22% so với 5 tháng/2008
c. Xuất, nhập khẩu hàng hoá
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 5/2009 ước tính đạt 4,4 tỷ USD, tăng 2,8% so với tháng trước và giảm 25% so với cùng kỳ năm trước. Một số mặt hàng chủ lực đạt kim ngạch tăng cao so với tháng 4/2009 là: Dầu thô tăng 48 triệu USD; hàng dệt may tăng 37 triệu USD; thủy sản tăng 10 triệu USD; điện tử máy tính và linh kiện tăng 5 triệu USD. Tính chung 5 tháng đầu năm 2009, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 22,9 tỷ USD, giảm 6,8% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 12 tỷ USD, tăng 12% (nếu loại trừ vàng tái xuất thì giảm 12%); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm cả dầu thô) đạt 10,9 tỷ USD, giảm 21,4%.
Trong 5 tháng đầu năm 2009, một số mặt hàng nông sản xuất khẩu giữ được tốc độ tăng cao cả về lượng và kim ngạch như: Gạo tăng 43,3% về lượng và tăng 20,2% về kim ngạch; chè tăng 17,5% và tăng 13,4%; sắn và sản phẩm của sắn tăng mạnh với mức tăng 129,6% về kim ngạch. Một số mặt hàng nông sản khác do ảnh hưởng của giá thế giới giảm nên tuy tăng về lượng nhưng kim ngạch giảm là: Cà phê tăng 21,6% về lượng, giảm 12,1% về kim ngạch; hạt tiêu tăng 43,3% về lượng, giảm 6,2% về kim ngạch. Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng khác giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó dầu thô tuy lượng tăng 22,5% nhưng kim ngạch chỉ đạt 2,6 tỷ USD, giảm 44% do giá giảm mạnh; hàng dệt may đạt 3,2 tỷ USD, giảm 1,8%; giày dép đạt 1,6 tỷ USD, giảm 10,1%; thủy sản đạt 1,4 tỷ USD, giảm 9,1%; cà phê đạt 963 triệu USD, giảm 12,1%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 939 triệu USD, giảm 19,8%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 909 triệu USD, giảm 8%; than đá đạt 479 triệu USD, giảm 20,7%.
Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ tháng 4/2009 đạt 879 triệu USD, tăng 3,3% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này 4 tháng đầu năm 2009 lên 3,2 tỷ USD, mức cao nhất trong các thị trường xuất khẩu của Việt Nam.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 5/2009 ước tính đạt 5,9 tỷ USD, tăng 8,1% so với tháng trước và giảm 25% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2009, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu đạt 24 tỷ USD, giảm 37% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 15,5 tỷ USD, giảm 41,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,5 tỷ USD, giảm 26,9%.
Nhìn chung 5 tháng đầu năm 2009, kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng đều giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó sắt thép giảm mạnh nhất với 60,8%; xăng dầu giảm 55,3%; ô tô giảm 48,3%; gỗ và nguyên phụ liệu gỗ giảm 44,5%; bông giảm 41,9%; phân bón giảm 31,6%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu giảm 30,9%; chất dẻo giảm 28,9%; xe máy giảm 28,3%; thuốc trừ sâu giảm 25%; máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng giảm 23,9%; hóa chất giảm 23,7%; giấy giảm 23,3%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép giảm 20%; sợi dệt giảm 18,2%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 18,1%; sản phẩm hóa chất giảm 16,2%. Riêng mặt hàng tân dược tăng 25,6% so với 5 tháng đầu năm 2008
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 4/2009 từ các thị trường lớn đều tăng so với tháng trước, trong đó đứng đầu là Trung Quốc đạt 1,2 tỷ USD, tăng 7%; Nhật Bản 573 triệu USD, tăng 1,9%; Đài Loan 523 triệu USD, tăng 7%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, kim ngạch nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc đạt mức cao nhất trong các thị trường với 4,1 tỷ USD.
Nhập siêu hàng hóa tháng 5/2009 ước tính 1,5 tỷ USD, bằng 34,1% kim ngạch xuất khẩu. Tính chung 5 tháng đầu năm 2009, nhập siêu hàng hóa 1,1 tỷ USD, bằng 4,9% kim ngạch xuất khẩu.
d. Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 1614,5 nghìn lượt người, giảm 18,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch đạt 986,4 nghìn lượt người, giảm 22%; đến vì công việc 285,4 nghìn lượt người, giảm 23,9%; thăm thân nhân đạt 235,8 nghìn lượt người, tăng 1,1%. Khách quốc tế đến nước ta bằng đường hàng không đạt 1345,8 nghìn lượt người, giảm 11%; đến bằng đường biển 33,3 nghìn lượt người, giảm 61,2%, đến bằng đường bộ 235,4 nghìn lượt người, giảm 39,4%.
Trong 5 tháng đầu năm 2009, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến Việt Nam giảm so với cùng kỳ năm 2008 là: Trung Quốc 189,1 nghìn lượt người, giảm 38,3%; Hoa Kỳ 185,8 nghìn lượt người, giảm 1,2%; Hàn Quốc 171,7 nghìn lượt người, giảm 22%; Nhật Bản 156,9 nghìn lượt người, giảm 8,2%; Đài Loan 117,5 nghìn lượt người, giảm 16,5%; Ôx-trây-li-a 99,6 nghìn lượt người, giảm 4,3%. Bên cạnh đó, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta cao hơn so với cùng kỳ năm trước là: Ca-na-đa 42,4 nghìn lượt người, tăng 4,2%; Ma-lai-xi-a 72,1 nghìn lượt người, tăng 0,9%. 
e. Vận tải
Vận tải hành khách 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 799,6 triệu lượt khách, tăng 6,8% và 34,4 tỷ lượt khách.km, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vận tải trung ương đạt 12 triệu lượt khách, giảm 15,2% và 8,9 tỷ lượt khách.km, giảm 5,1%; vận tải địa phương đạt 787,6 triệu lượt khách, tăng 7,3% và 25,6 tỷ lượt khách.km, tăng 7,1%. Vận tải hành khách đường bộ 5 tháng đầu năm 2009 đạt 720,4 triệu lượt khách, tăng 7,4% và 24,6 tỷ lượt khách.km, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước; vận tải đường sông đạt 67,9 triệu lượt khách, tăng 2,3% và 1,4 tỷ lượt khách.km, tăng 1,7%; vận tải đường biển đạt 2,5 triệu lượt khách, tăng 3,2% và 159,5 triệu lượt khách.km, tăng 5,2%. Riêng vận tải hành khách đường sắt và đường hàng không giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó đường sắt giảm 3,3% về vận chuyển và giảm 13,8% về luân chuyển; đường hàng không giảm 2,4% và giảm 3,2%.
Vận tải hàng hóa 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 260,6 triệu tấn, giảm 1,5% và 69,7 tỷ tấn.km, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải đường bộ đạt 187,2 triệu tấn, tăng 0,3% và 9,5 tỷ tấn.km, tăng 1%; đường sông đạt 52,3 triệu tấn, giảm 2,3% và 8,4 tỷ tấn.km, giảm 6,7%; đường biển đạt 17,8 triệu tấn giảm 13,1% và 50,1 tỷ tấn.km, tăng 4,2%; đường sắt đạt 3,2 triệu tấn, giảm 17% và 1,5 tỷ tấn.km, giảm 19,5%.
f. Bưu chính viễn thông
Số thuê bao điện thoại phát triển mới 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 10,4 triệu thuê bao, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó thuê bao điện thoại cố định đạt 1,6 triệu thuê bao, tăng 62,4%. Số thuê bao điện thoại của cả nước tính đến cuối tháng 5/2009 đạt 91,8 triệu thuê bao (máy cố định đạt 15,7 triệu thuê bao), trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 54,5 triệu thuê bao. Số thuê bao internet băng thông rộng trên cả nước tính đến cuối tháng 5/2009 ước tính đạt 2,5 triệu thuê bao, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 1,6 triệu thuê bao. Số người sử dụng internet trên cả nước đạt 22,4 triệu người. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông 5 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 30,7 nghìn tỷ đồng, tăng 21,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 23 nghìn tỷ đồng, tăng 26,6%.
5. Thu chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến ngày 15/5/2009 ước tính bằng 31,8% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 33,3%; thu từ dầu thô bằng 26%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 32,1%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 39,1%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 27,2%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước bằng 32,2%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao bằng 31,3%; thu phí xăng dầu bằng 47,5%; thu phí, lệ phí bằng 25,9%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/5/2009 ước tính bằng 28,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 29,5% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 28,4%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 32,1%; chi trả nợ và viện trợ bằng 32,2%.
6. Một số vấn đề xã hội
a. Thiếu đói trong nông dân
Theo báo cáo của các địa phương, từ 20/4 đến 19/5/2009, cả nước có 91,5 nghìn hộ thiếu đói và 416,2 nghìn nhân khẩu thiếu đói, chiếm 0,8% số hộ và chiếm 0,8% nhân khẩu nông nghiệp cả nước. Tình trạng thiếu đói tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên; một số địa phương có tỷ lệ nhân khẩu thiếu đói so với nhân khẩu nông nghiệp cao là: Cao Bằng 7,9%, Bắc Kạn 8,3% và Đắk Nông 10,7%. Các cấp, các ngành, các tổ chức đang tích cực triển khai công tác trợ giúp cho các hộ thiếu đói.
b. Tình hình dịch bệnh
Từ 20/4/2009 đến 20/5/2009, trên địa bàn cả nước có 3,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 4,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 414 trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; 701 trường hợp mắc tiêu chảy cấp, trong đó 56 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả; 6 vụ ngộ độc thực phẩm với 114 trường hợp bị ngộ độc. Tính chung 5 tháng đầu năm 2009, cả nước có 16 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 16,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 1,8 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; 28 vụ ngộ độc thực phẩm với 1,9 nghìn trường hợp bị ngộ độc.
Dịch cúm A/H1N1 trên thế giới vẫn đang diễn biến phức tạp, theo báo cáo chính thức của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tính đến ngày 21/5/2009, đã có 11034 trường hợp được xác nhận bị lây nhiễm cúm A/H1N1 ở 43 nước và vùng lãnh thổ, trong đó 85 người đã tử vong. Để ứng phó với dịch cúm này tại Việt Nam, Bộ Y tế đã và đang tích cực chỉ đạo các địa phương, các đơn vị liên quan triển khai nhiều biện pháp phòng ngừa như: Theo dõi thường xuyên diễn biến của dịch trên thế giới; giám sát chặt chẽ các trường hợp nghi ngờ tại cửa khẩu quốc tế; tổ chức diễn tập tình huống; thông tin, tuyên truyền về diễn biến dịch và các biện pháp phòng, chống.
Trong tháng 5/2009 đã phát hiện thêm 1 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước tính đến 20/5/2009 lên 187,2 nghìn người, trong đó 73,9 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 42,6 nghìn người đã tử vong do AIDS.
c. Tai nạn giao thông
Theo báo cáo của Uỷ ban ATGT quốc gia, trong tháng 4/2009, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 971 vụ tai nạn giao thông, làm chết 915 người và làm bị thương 600 người. So với tháng 3/2009, số vụ tai nạn giao thông giảm 8%, số người chết giảm 7,5% và số người bị thương giảm 12%. So với cùng kỳ năm 2008, số vụ tai nạn giao thông giảm 9,7%, số người chết giảm 4,8% và số người bị thương giảm 15,3%. Riêng trong 5 ngày nghỉ lễ 30/4 và 01/5 (từ 29/4 đến 03/5/2009), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 160 vụ tai nạn giao thông, làm chết 163 người và làm bị thương 139 người.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4188 vụ tai nạn giao thông, làm chết 3947 người và làm bị thương 2706 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 3,6%, số người chết giảm 1,8% và số người bị thương giảm 1,6%. Bình quân 1 ngày trong 4 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 35 vụ tai nạn giao thông, làm chết 33 người và làm bị thương 23 người.
d. Thiệt hại do thiên tai
Mưa, lũ và bão xảy ra cuối tháng 4 đến giữa tháng 5/2009 đã ảnh hưởng mạnh đến 14 tỉnh trên cả nước (Ninh Bình, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Kạn, Cao Bằng, Điện Biên, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Bình Thuận, Đồng Tháp, Trà Vinh). Theo báo cáo sơ bộ của các tỉnh trên, thiên tai đã làm 10,3 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 18 người chết và mất tích, trong đó riêng địa bàn huyện Yên Thành (Nghệ An) có 6 người chết trong trận mưa ngày 16/5/2009. Chính quyền địa phương các cấp đã kịp thời chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả sau thiên tai, nhằm nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống dân cư.
Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta 5 tháng đầu năm 2009 đã có dấu hiệu sớm được phục hồi sau thời gian bị ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng bước đầu đã phát huy tác dụng, nhiều công trình, dự án quan trọng đang được tập trung đầu tư để phát triển sản xuất và giải quyết mục tiêu an sinh xã hội. Sản xuất công nghiệp từng bước ổn định, sản lượng nhiều sản phẩm quan trọng đạt mức tăng khá. Chỉ số giá tiêu dùng ở mức hợp lý. Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực có xu hướng tăng cao. An ninh xã hội được đảm bảo, đời sống dân cư từng bước được cải thiện. Để phát huy kết quả đạt được trong những tháng tiếp theo, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, ổn định và nâng cao đời sống dân cư, các ngành, các cấp, các địa phương cần tập trung làm tốt một số vấn đề chủ yếu sau đây:
Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm và đồng bộ Nghị quyết 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội;
Hai là, theo dõi chặt chẽ biến động giá của thị trường hàng hoá trong quá trình triển khai thực hiện gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng, để kịp thời có những giải pháp và chính sách phù hợp nhằm ngăn ngừa tái lạm phát;
Ba là, khẩn trương nghiên cứu và kịp thời đề ra những giải pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức, cá nhân được tiếp cận với các nguồn vốn vay trung và dài hạn để phát triển sản xuất, đặc biệt là mua sắm máy móc, thiết bị, công cụ vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, nguyên vật liệu để xây dựng nhà ở khu vực nông thôn; các nguồn vốn đầu tư xây dựng nhà ở cho các đối tượng chính sách, người có thu nhập thấp, ký túc xá cho sinh viên;
Bốn là, chủ động tháo gỡ khó khăn, hạ giá thành sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Tăng cường kiểm soát chặt chẽ hàng nhập khẩu, đặc biệt hàng tiêu dùng nhằm bảo đảm hàng hoá tiêu thụ trong nước. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất trong những lĩnh vực có thị trường;
Năm là, tiếp tục triển khai mạnh và hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, thực hiện các chế độ, chính sách kịp thời, đúng đối tượng. Xây dựng chương trình kế hoạch tạo thêm việc làm nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm.
Nguồn : Báo cáo Tổng cục Thống kê số: 22/TCTK-TKTH
6/4/2009 4:15 AMĐã ban hànhTinXem chi tiết787-Tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-thang-5-va-5-thang-dau-nam-2009Thông tin chỉ đạo, điều hành
Giám sát và lấy mẫu xét nghiệm các trường hợp sốt, ho, đau họng... tại các bệnh viện, hiệu thuốcGiám sát và lấy mẫu xét nghiệm các trường hợp sốt, ho, đau họng... tại các bệnh viện, hiệu thuốc

TTĐT - ​UBND tỉnh chỉ đạo tiếp tục thực hiện các biện pháp trong công tác ph​òng, chống dịch Covid-19.

Theo đó, UBND các huyện, thị xã, thành phố; Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 các cấp tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương và Chỉ thị số 10/CT-UBND ngày 22/6/2021, Công văn số 2946/UBND-VX về công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

Thành viên Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 các cấp, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp, phải huy động tổng lực của cả hệ thống chính trị và người dân chủ động, tích cực tham gia phòng chống dịch. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống dịch từ tỉnh xuống tận cấp cơ sở; yêu cầu Tổ Covid cộng đồng từ trong các xã, ấp, khu phố, cùng với Tổ an toàn Covid trong các phân xưởng thuộc các doanh nghiệp trên toàn tỉnh phải hoạt động thực chất, thường xuyên, liên tục, mạnh mẽ, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cấp bách trong công tác phòng, chống dịch hiện nay. Xử phạt thật nghiêm những người vi phạm công tác phòng, chống dịch cũng như có hình thức phê bình, kiểm điểm, thậm chí kỷ luật ngay các tập thể, cá nhân không quyết liệt thực hiện các chỉ đạo trong phòng, chống dịch.

Áp dụng Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn thành phố Dĩ An cho đến khi có thông báo mới.

Đối với các huyện chưa phát hiện có ca nhiễm Covid-19 và được coi là các khu vực an toàn, UBND các huyện lập ngay chốt kiểm soát người ra vào, thực hiện khai báo y tế; tổ chức giám sát và quản lý chặt chẽ người đến từ vùng dịch, lấy mẫu xét nghiệm, quản lý, theo dõi y tế, cách ly phù hợp, đặc biệt là đối tượng công nhân,…

Tất cả các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh phải quán triệt quan điểm phòng, chống dịch ở mức cao hơn; siết chặt quản lý địa bàn theo đúng tinh thần chỉ đạo của UBND tỉnh tại Chỉ thị số 10/CT-UBND một cách linh hoạt, hiệu quả. Tổ chức giám sát toàn diện, triệt để, lấy mẫu xét nghiệm tất cả các trường hợp sốt, ho, đau họng, hội chứng cúm, viêm đường hô hấp tại các bệnh viện, các hiệu thuốc trên toàn địa bàn; lấy mẫu xét nghiệm ngẫu nhiên người dân ngoài cộng đồng và các cơ sở y tế để theo dõi, phát hiện, đánh giá tình hình dịch thường xuyên cho Ban Chỉ đạo tỉnh.

Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh khẩn trương phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu thành lập, kiện toàn các Tiểu ban phòng, chống dịch để đảm bảo phục vụ công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành công tác phòng, chống dịch hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục tuyên truyền thật mạnh mẽ, thường xuyên, liên tục về công tác phòng chống dịch cho nhân dân.Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Ban Quản lý các Khu Công nghiệp tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp khẩn trương, phối hợp chỉ đạo, củng cố, kiện toàn, xây dựng các Tổ Covid cộng đồng tại các xã, ấp, khu phố, các khu nhà trọ,… để hàng ngày "đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người" và Tổ an toàn Covid trong các phân xưởng, nhà máy của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đảm bảo các Tổ hoạt động thực chất, hiệu quả, làm cầu nối về công tác phòng, chống dịch giữa chính quyền, ngành y tế đến với công nhân lao động, doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh.

Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh khẩn trương phát Thư kêu gọi toàn dân tham gia phòng, chống dịch, đảm bảo nhà nhà, người người thực hiện tốt 5K ở mọi chỗ, mọi nơi, đảm bảo an toàn cho từng cá nhân, người thân và gia đình mình; tham gia, đóng góp tích cực vào hoạt động của Tổ Covid cộng đồng ngoài xã hội và Tổ an toàn Covid trong tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh…

Văn bản

7/7/2021 5:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtGiám sát, toàn diện, lấy mẫu, xét nghiệm, trường hợp, nghi bệnh, liên quan, Covid-19 tại, bệnh viện, hiệu thuốc512-giam-sat-va-lay-mau-xet-nghiem-cac-truong-hop-sot-ho-dau-hong-tai-cac-benh-vien-hieu-thuoThông tin chỉ đạo, điều hànhTrueĐoan Trang
781.00
121,000
0.00
121000
0
Bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lýBổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý

TTĐT - ​UBND tỉnh ban hành Quyết định bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý.

​Theo đó, bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp Trợ giúp viên pháp lý hạng III và cấp Thẻ Trợ giúp viên pháp lý cho bà Đinh Như Ý, sinh ngày 29/11/1984, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương trực thuộc Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương kể từ ngày 22/12/2022.

Lương và các chế độ, chính sách của Trợ giúp viên pháp lý thực hiện theo quy định hiện hành.

Quyết định ​

12/30/2022 11:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtBổ nhiệm, cấp thẻ, trợ giúp viên, pháp lý882-bo-nhiem-va-cap-the-tro-giup-vien-phap-lThông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
0.00
121,000
0.00
121000
Quy hoạch xây dựng vùng huyện Phú Giáo đến năm 2040Quy hoạch xây dựng vùng huyện Phú Giáo đến năm 2040

TTĐT - ​​UBND tỉnh ban hành Quyết định phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch xây dựng vùng huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đến năm 2040.

​Theo đó, phạm vi nghiên cứu theo địa giới hành chính huyện Phú Giáo, gồm thị trấn Phước Vĩnh và 10 xã (An Bình, An Linh, An Long, An Thái, Tân Long, Phước Hòa, Phước Sang, Vĩnh Hòa, Tân Hiệp, Tam Lập) với tứ cận tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp huyện Đồng Phú và huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước; phía Nam giáp sông Bé và huyện Bắc Tân Uyên; phía Đông giáp sông Mã Đà và huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; phía Tây giáp huyện Bàu Bàng.

Quy mô lập quy hoạch: Trên tổng diện tích tự nhiên huyện Phú Giáo 54.443,85 hecta.

Định hướng đến năm 2030 phát triển theo hướng nông nghiệp - công nghiệp - đô thị, dịch vụ.

Định hướng đến 2040 phát triển theo hướng công nghiệp - đô thị, dịch vụ - nông nghiệp.

Quan điểm, mục tiêu quy hoạch: Cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã được định hướng trong Quy hoạch tỉnh Bình Dương thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050;định hình sự phát triển không gian toàn huyện, bao gồm sự phát triển của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, định hướng sử dụng đất, các đô thị, các khu chức năng. Đây là cơ sở pháp lý để quản lý về hoạt động xây dựng trên toàn huyện, nhằm đảm bảo sự phát triển không gian của vùng đúng với các định hướng đã đề ra trong đồ án; đồng bộ quy hoạch xây dựng với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch kinh tế - xã hội; làm cơ sở để triển khai các đồ án quy hoạch chi tiết, lập các dự án đầu tư và thực hiện đầu tư theo quy hoạch được phê duyệt, trong giai đoạn 2020-2025, 2025-2030 và 2030-2040; 10/10 xã đạt nông thôn mới nâng cao và công nhận huyện nông thôn mới nâng cao vào năm 2025, trong đó có 03 xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu, bao gồm xã Tân Hiệp, xã Tân Long, xã Vĩnh Hòa.

Dự báo quy mô dân số huyện Phú Giáo đến năm 2030 khoảng 160.000 người, đến năm 2040 khoảng 240.000 người.​

Quyết định ​

4/5/2024 9:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtQuy hoạch, xây dựng, vùng, huyện Phú Giáo, năm 204099-quy-hoach-xay-dung-vung-huyen-phu-giao-den-nam-204Thông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
406.00
121,000
0.00
121000
0
Danh sách các doanh nghiệp thực hiện đăng ký giá, kê khai giá tại Sở Tài chính tỉnh Bình DươngDanh sách các doanh nghiệp thực hiện đăng ký giá, kê khai giá tại Sở Tài chính tỉnh Bình Dương

TTĐT - ​UBND tỉnh thông báo danh sách các doanh nghiệp thực hiện đăng ký giá, kê khai giá tại Sở Tài chính. Thông báo này thay thế Thông báo số 175/TB-UBND ngày 15/8/2018 của UBND tỉnh Bình Dương.​

Theo đó, có 186 doanh nghiệp thực hiện kê khai giá và 83 doanh nghiệp thực hiện đăng ký giá.

Mọi thay đổi về thông tin của doanh nghiệp theo Thông báo này như thay đổi tên, loại hình kinh doanh, địa chỉ, ...; doanh nghiệp phải gửi văn bản báo về Sở Tài chính trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày thay đổi; đồng thời doanh nghiệp tiếp tục thực hiện kê khai giá theo quy định.

Sở Tài chính có trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân có tên trong các Danh sách thực hiện việc đăng ký giá, kê khai giá theo đúng quy định hiện hành.​

Thông báo ​​

8/26/2019 12:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtdoanh nghiệp, giá, kê khai, đăng ký, Sở Tài chính647-danh-sach-cac-doanh-nghiep-thuc-hien-dang-ky-gia-ke-khai-gia-tai-so-tai-chinh-tinh-binh-duonThông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
174.00
121,000
0.00
121000
21,054,000
Bình Dương triển khai Chiến dịch 60 ngày thu nhận, kích hoạt tài khoản định danh điện tử cho công dânBình Dương triển khai Chiến dịch 60 ngày thu nhận, kích hoạt tài khoản định danh điện tử cho công dân

​TTĐT - ​UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến dịch "60 ngày" thu nhận, kích hoạt tài khoản định danh điện tử (ĐDĐT) cho công dân đủ điều kiện gắn với việc triển khai Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 08/4/2023 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, Chiến dịch sẽ diễn ra từ ngày 25/7 đến 25/9/2023, triển khai đến các đối tượng là công dân hiện đang sinh sống, làm việc, lao động trên địa bàn tỉnh đã được cấp thẻ Căn cước công dân (CCCD) chưa thực hiện cài đặt ứng dụng VNeID, chưa có tài khoản ĐDĐT hoặc chưa kích hoạt, sử dụng tài khoản ĐDĐT mức độ 2.

Chiến dịch huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cấp xã, nòng cốt là lực lượng Công an, Tổ công nghệ số cộng đồng (CNSCĐ), Tổ công tác triển khai Đề án 06 cấp xã và đoàn thể các cấp.

Chiến dịch được chia thành 02 giai đoạn. Giai đoạn 1 (từ ngày 25/7/2023 đến 25/8/2023), phấn đấu đạt 500.000 tài khoản ĐDĐT mức độ 2 được kích hoạt thành công. Trong đó, đảm bảo 100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và chiến sỹ lực lượng vũ trang (gọi chung là CBCC) thuộc các sở, ban, ngành và đoàn thể từ tỉnh đến cấp xã trên địa bàn tỉnh, có tài khoản ĐDĐT mức độ 2 và đã cài đặt, đăng nhập tài khoản ĐDĐT trên ứng dụng VNeID.

Giai đoạn 2 (từ ngày 26/8/2023 đến ngày 25/9/2023), phấn đấu đạt 200.000 tài khoản ĐDĐT mức độ 2 được kích hoạt thành công.

Hàng ngày, Công an cấp xã có trách nhiệm thống kê các hồ sơ đã được phê duyệt chưa kích hoạt theo từng địa bàn ấp, khu phố chuyển cho các Tổ CNSCĐ và Tổ công tác triển khai Đề án 06 ấp, khu phố và các Tổ tình nguyện viên để tiến hành "đi đến từng nhà, hướng dẫn, hỗ trợ, vận động từng trường hợp cụ thể" thực hiện kích hoạt tài khoản ĐDĐT.

Đối với các trường hợp công dân không sử dụng điện thoại thông minh thì hướng dẫn, hỗ trợ kích hoạt tài khoản ĐDĐT trực tiếp thông qua website https://vneid.gov.vn.

Đối với các trường hợp công dân vắng mặt tại nơi cư trú, không thể hướng dẫn, hỗ trợ kích hoạt tài khoản ĐDĐT, các Tổ CNSCĐ, Tổ công tác triển khai Đề án 06 và các Tổ tình nguyện viên ghi chú, lập danh sách gửi trả về Công an cấp xã để nắm, thực hiện theo quy trình nghiệp vụ.

Kế hoạch 

7/20/2023 11:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtBình Dương, triển khai, Chiến dịch, 60 ngày, thu nhận, kích hoạt, tài khoản, định danh điện tử, công dân814-binh-duong-trien-khai-chien-dich-60-ngay-thu-nhan-kich-hoat-tai-khoan-dinh-danh-dien-tu-cho-cong-daThông tin chỉ đạo, điều hànhTrueĐoan Trang
0.00
121,000
0.00
121000
Kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2018-2020Kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2018-2020

TTĐT - ​UBND tỉnh vừa ban hành Kế hoạch​ hành động về tăng trưởng xanh trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2018-2020.

Theo đó, Kế hoạch hành động đảm bảo 4 chủ đề chính theo Quyết định số 403/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 căn cứ theo tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương.

Chủ đề 1: Xây dựng Kế hoạch hành động của UBND tỉnh về tăng trưởng xanh; tỉnh triển khai thực hiện 4/8 hoạt động so với kế hoạch quốc gia. Chủ đề 2: Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; tỉnh triển khai 18/20 hoạt động so với kế hoạch quốc gia. Chủ đề 3: Thực hiện xanh hóa sản xuất; tỉnh triển khai 22/25 hoạt động so với kế hoạch quốc gia. Chủ đề 4: Thực hiện xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững; tỉnh triển khai 11/13 hoạt động so với kế hoạch quốc gia.

Nguồn vốn thực hiện từ ngân sách nhà nước, nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, cộng đồng và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.

Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối phối hợp triển khai, theo dõi, tổng hợp báo cáo đánh giá quá trình thực hiện Chiến lược quốc gia, Kế hoạch hành động quốc gia và Kế hoạch hành động của UBND tỉnh về tăng trưởng xanh trên địa bàn tỉnh. Các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị liên quan căn cứ Kế hoạch hành động của UBND tỉnh và tình hình thực tế tại địa phương chủ động liên hệ Bộ, ngành Trung ương xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể phù hợp chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao.​

5/11/2018 5:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếttăng trưởng xanh968-ke-hoach-hanh-dong-ve-tang-truong-xanh-tren-dia-ban-tinh-binh-duong-giai-doan-2018-202Thông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
348.00
121,000
0.00
121000
42,108,000
Từ ngày 20-21/6/2022 tại Bình Dương diễn ra sự kiện Vinh danh Top 7 Cộng đồng thông minh thế giới năm 2022Từ ngày 20-21/6/2022 tại Bình Dương diễn ra sự kiện Vinh danh Top 7 Cộng đồng thông minh thế giới năm 2022

TTĐT - ​​UBND tỉnh ban hành Kế hoạch tổ chức sự k​iện Vinh danh Top 7 Cộng đồng thông minh thế giới năm 2022.

Sự kiện được tổ chức với chủ đề "Phục hồi sau đại dịch, chuyển đối số và Đổi mới sáng tạo thúc đẩy sự tăng trưởng trong cộng đồng". Tên tiếng Anh là "Post-Pandemic Recovery, how digital innovation drives growth in our communities".

Sự kiện diễn ra trong hai ngày 20 và 21/06/2022 tại Trung tâm Hội nghị và Triển lãm tỉnh Bình Dương (BECC), TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Dự kiến sẽ có 100 khách mời trong nước (lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo các Bộ, ngành Trung ương và đại diện lãnh đạo một số tỉnh, thành phố và các doanh nghiệp, cộng đồng...; 100 khách mời nước ngoài (lãnh đạo ICF, lãnh đạo một số quốc gia, địa phương nước ngoài, tổ chức quốc tế, các tập đoàn đa quốc gia; các giáo sư, diễn giả của một số viện nghiên cứu và các trường đại học trên thế giới); 200 khách mời nội bộ tỉnh (lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể, các địa phương và các doanh nghiệp tỉnh Bình Dương, viện - trường đại học, cao đẳng..).

Sự kiện Vinh danh Top 7 Cộng đồng thông minh thế giới năm 2022 là sự kiện quốc tế quan trọng, với mục tiêu mang đến chất lượng quốc tế và đảm bảo nội dung cho địa phương tổ chức. Sự kiện dự kiến bao gồm các chương trình chính: Tiệc tối (Gala dinner) là tiệc Vinh Danh Top 7 Cộng đồng Thông minh thế giới 2022; chương trình hội nghị với khách mời là lãnh đạo cấp cao Chính phủ, Bộ, ngành của nước chủ nhà và các nước được mời; sự kiện bên lề triển lãm sống xanh và bền vững; chương trình tham quan những công trình và dự án của Bình Dương, phục vụ cộng đồng Bình Dương và phát triển Thành phố thông minh.

Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các ngành, đơn vị có liên quan tổ chức các hoạt động của sự kiện Vinh danh Top 7 Cộng đồng thông minh thế giới 2022 nhằm đạt được mục đích, yêu cầu và các nội dung của kế hoạch đã đề ra. Ban Điều hành chỉ đạo xây dựng Kế hoạch tổng thể sự kiện; phân công nhiệm vụ cho các đơn vị xây dựng kế hoạch và phê duyệt kế hoạch chi tiết tổ chức các hoạt động. Trưởng Ban Điều hành sẽ phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên và quyết định thành lập các Tiểu ban phục vụ cho Ban Điều hành.

​Kế hoạch 

6/7/2022 3:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiết21/6/2022, Bình Dương, diễn ra, sự kiện, Vinh danh, Top 7, Cộng đồng, thông minh, thế giới, năm 2022915-tu-ngay-20-21-6-2022-tai-binh-duong-dien-ra-su-kien-vinh-danh-top-7-cong-dong-thong-minh-the-gioi-nam-202Thông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
492.00
121,000
0.00
121000
0
Bình Dương: Sản xuất công nghiệp tăng trở lạiBình Dương: Sản xuất công nghiệp tăng trở lại
Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ở Bình Dương đã ổn định và có mức tăng trưởng nhanh trở lại.
Trong hai tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp mà tỉnh Bình Dương thực hiện là hơn 11.100 tỉ đồng, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó riêng tháng 2 tăng 4,6% so với tháng 1 và tăng 41,3% so với cùng kỳ năm trước.
 
Khu vực kinh tế vốn đầu tư trong nước có mức tăng trưởng cao là 10,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nhà nước tăng 11,1% và ngoài nhà nước tăng 10,5%. Một số sản phẩm có mức tăng cao như hạt điều nhân tăng 23%, giày các loại tăng 22,6%, nước sinh hoạt tăng 21,7%, thủy sản chế biến tăng 21,2%...
Ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, do một số doanh nghiệp ở các ngành sản xuất hàng may mặc, da giày, lắp ráp ôtô và gia công linh kiện điện tử chưa đi vào sản xuất ổn định nên giá trị sản xuất thực hiện là hơn 7.500 tỉ đồng, chỉ tăng 7,3 % so với cùng kỳ năm trước.
 
Một số sản phẩm có mức tăng khá như mì ăn liền tăng 72,3%, giấy bìa các loại tăng 55,7%, sữa bột tăng 39,6%, thuốc viên các loại tăng 31,5%...
 
Để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã tổ chức nhiều cuộc họp nhằm bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn, giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất, góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh của năm.
 
Riêng Tổ công tác kiểm tra, giải quyết hỗ trợ cho các doanh nghiệp gặp khó khăn do một Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh phụ trách sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ, đối thoại với các doanh nghiệp nhằm kịp thời có giải pháp giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, trong đó có việc hệ thống ngân hàng thương mại tại tỉnh triển khai ngay việc cho vay đúng đối tượng được vay với lãi suất ưu đãi theo gói kích cầu của Chính phủ./.

(TTXVN/Vietnam+)

3/2/2009 9:05 AMĐã ban hànhTinXem chi tiết1485-Binh-Duong-San-xuat-cong-nghiep-tang-tro-laiThông tin chỉ đạo, điều hành
Công bố TTHC sửa đổi, bổ sung và bị bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp, UBND cấp xãCông bố TTHC sửa đổi, bổ sung và bị bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp, UBND cấp xã

TTĐT - Ngày 11/3/2016, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 535/QĐ-UBND về việc công bố thủ tục hành chính (TTHC) sửa đổi, bổ sung và TTHC bị bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp, UBND cấp xã.

​​

TTĐT - Ngày 11/3/2016, UBND tỉnh ban hành ​Quyết định số 535/QĐ-UBND về việc công bố thủ tục hành chính (TTHC) sửa đổi, bổ sun​​​g và TTHC bị bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp, UBND cấp xã.

3/11/2016 4:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtTTHC, cấp xã, Sở Tư pháp, lĩnh vực, sửa đổi, bổ sung, ban hành, bãi bỏ 284-cong-bo-tthc-sua-doi-bo-sung-va-bi-bai-bo-thuoc-tham-quyen-giai-quyet-cua-so-tu-phap-ubnd-cap-xaThông tin chỉ đạo, điều hànhFalseMai XuânMai Xuân
Đẩy mạnh triển khai Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừaĐẩy mạnh triển khai Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

TTĐT - ​​UBND tỉnh chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các đơn vị liên quan căn cứ nội dung tại Công văn số 1590/TTg-DMDN ngày 18/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh triển khai Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để tham mưu UBND tỉnh tổ chức thực hiện.

Cụ thể, các địa phương ưu tiên bố trí nguồn lực để đẩy mạnh triển khai có hiệu quả các nội dung, chương trình, kế hoạch, đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã được phê duyệt theo quy định của Luật Hỗ trợ DNNVV; đổi mới mô hình hoạt động Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV; nâng cao chất lượng hoạt động của các đơn vị tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp; tăng cường phối hợp với các tổ chức hiệp hội doanh nghiệp để hỗ trợ DNNVV phát triển hiệu quả, bền vững. Các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, hiệp hội doanh nghiệp phối hợp triển khai các nội dung hỗ trợ của nhà nước theo quy định tại Luật hỗ trợ DNNVV.

Các DNNVV chủ động tìm hiểu, tiếp cận thông tin về các chương trình, đề án, kế hoạch hỗ trợ DNNVV của các Bộ, ngành Trung ương, các hiệp hội và địa phương để đề xuất nhu cầu hỗ trợ phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Tăng cường đầu tư và ứng dụng công nghệ thông tin; nâng cao chất lượng, trình độ quản trị doanh nghiệp; hoàn thiện quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn tham gia chuỗi cung ứng của các đối tác lớn, đặc biệt là khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng mang tính toàn cầu. Tích cực tham gia các hiệp hội doanh nghiệp để tiếp cận thông tin về các chính sách, chương trình hỗ trợ đối với DNNVV của nhà nước cũng như các tổ chức tín dụng. Đồng thời, tìm hiểu, tham gia các khóa đào tạo, tập huấn để nắm bắt thông tin, tận dụng tối đa lợi thế của các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết để đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và nguồn cung ứng thay thế trong bối cảnh toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh Covid-19.

Văn bản 

11/25/2021 6:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtĐẩy mạnh, triển khai, Luật, Hỗ trợ, doanh nghiệp, nhỏ, vừa175-day-manh-trien-khai-luat-ho-tro-doanh-nghiep-nho-va-vuThông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
413.00
121,000
0.00
121000
0
Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống mại dâm năm 2017Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống mại dâm năm 2017

TTĐT - UBND tỉnh vừa ban hành Kế hoạch về việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phòng, chống mại dâm năm 2017.

Theo đó, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Công an tỉnh, Sở Y tế và các sở, ngành có liên quan tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức về phòng, chống mại dâm qua các phương tiện thông tin đại chúng; tăng cường các hoạt động tuyên truyền trực tiếp tại cộng đồng, tập trung ở các khu vực vùng sâu, vùng xa, các địa phương có nhiều hộ nghèo…để hạn chế phát sinh mới số người tham gia mại dâm. Đồng thời thiện các hoạt động phòng ngừa mại dâm thông qua lồng ghép các chương trình kinh tế - xã hội tại địa phương; xây dựng, triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm các bệnh xã hội về HIV/AIDS, phòng ngừa, giảm tình trạng bạo lực trên cơ sở giới trong phòng, chống mại dâm; đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, tội phạm liên quan đến mại dâm.

7/24/2017 10:00 AMĐã ban hànhTinXem chi tiếtUBND tỉnh Bình Dương, kế hoạch, phòng chống mại dâm, năm 2017747-thuc-hien-nhiem-vu-phong-chong-mai-dam-nam-201Thông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
0.00
121,000
0.00
121000
Tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 2 năm 2023Tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 2 năm 2023

TTĐT - ​​UBND tỉnh ban hành Kế hoạch tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 2 năm 2023 (gọi tắt là Kế hoạch).

Theo đó, tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Sách nhằm phát huy giá trị của sách, của văn hóa đọc trong cộng đồng; góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần, phát huy những giá trị đạo đức, truyền thống hiếu học của dân tộc. Khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của sách đối với việc nâng cao kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng, tạo dựng môi trường đọc thuận lợi; hình thành thói quen đọc sách trong gia đình, trường học, cơ quan, tổ chức; góp phần xây dựng xã hội học tập.

Đồng thời, tôn vinh người đọc, người sáng tác, xuất bản, in, phát hành, thư viện, lưu giữ, sưu tầm, quảng bá sách và các tổ chức, cá nhân có những đóng góp cho phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam trong đời sống xã hội tại Bình Dương; giúp bạn đọc tiếp cận sách với hình thức trực tuyến trên không gian mạng; từng bước giúp các đơn vị xuất bản, phát hành xuất bản phẩm chuyển đổi số trong tình hình mới.

Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm nay có thông điệp "Sách: Nhận thức-Đổi mới-Sáng tạo"; "Sách cho tôi, cho bạn".

Các hoạt động hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 2 trên địa bàn tỉnh Bình Dương được tổ chức trong tháng 3/2023 đến hết tháng 4/2023. Các hoạt động trọng tâm diễn ra từ ngày 15/4/2023 đến ngày 01/5/2023.

Lễ khai mạc Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ 2 năm 2023 sẽ dự kiến diễn ra vào 18 giờ, ngày 20/4/2023 tại Chợ đêm và Phố đi bộ Bạch Đằng (trong khuôn viên dự án Trung tâm thương mại Dịch vụ Bạch Đằng, đường Bạch Đằng, phường Phú Cường, TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương). Đồng thời, tổ chức trưng bày, triển lãm Tuần lễ Sách từ ngày 20/4/2023 đến ngày 24/4/2023.

Kế hoạch ​​

4/6/2023 5:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtTổ chức, Ngày Sách, Văn hóa, đọc, Việt Nam, lần thứ 2, năm 202315-to-chuc-ngay-sach-va-van-hoa-doc-viet-nam-lan-thu-2-nam-202Thông tin chỉ đạo, điều hànhTrueĐoan Trang
429.00
121,000
0.00
121000
0
Tổng kết việc thi hành Luật phòng, chống ma túy năm 2000 Tổng kết việc thi hành Luật phòng, chống ma túy năm 2000

​TTĐT - UBND tỉnh vừa ban hành Kế hoạch tổng kết việc thi hành Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2008).

Phạm vi Kế hoạch là tổng kết việc thi hành Luật Phòng, chống ma túy từ khi Luật sửa đổi, bổ sung năm 2008 có hiệu lực đến ngày 30/6/2017. Qua đó, phân tích rõ kết quả, đánh giá những thành công, hạn chế trong quy định và tổ chức thực hiện Luật Phòng, chống ma túy; chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong quy định và thực tiễn tổ chức của Luật Phòng, chống ma túy, từ đó đưa ra đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung phù hợp; rà soát, đánh giá những mối quan hệ giữa các quy định của Luật Phòng, chống ma túy đối với Luật Xử lý vi phạm hành chính, Chương XX của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

Các sở, ban, ngành, đoàn thể, UBND các huyện, thị xã, thành phố chủ động thực hiện việc tổng kết và xây dựng báo cáo theo đề cương hướng dẫn gửi về Công an tỉnh trước ngày 31/10/2017 để tổng kết, báo cáo.

10/19/2017 4:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtphòng, chống ma tuý610-tong-ket-viec-thi-hanh-luat-phong-chong-ma-tuy-nam-2000Thông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
223.00
121,000
0.40
121000
27,031,400
Tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Toàn tỉnh chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016-2020Tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Toàn tỉnh chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016-2020

TTĐT - UBND tỉnh vừa ban hành Kế hoạch số 707/KH-UBND về việc tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Toàn tỉnh chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016-2020.

Kế hoạch nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trực tiếp tham gia thực hiện thắng lợi chủ trương xây dựng nông thôn mới; phấn đấu đến năm 2020 có 100% số xã, 100% huyện, thị xã đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí nông thôn mới của tỉnh Bình Dương; góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân trên địa bàn nông thôn của tỉnh.

Về nội dung thi đua, các sở, ban, ngành, đoàn thể, UBND các huyện, thị xã, các doanh nghiệp nhà nước và các cụm, khối thi đua căn cứ chức năng, nhiệm vụ tiếp tục xây dựng, hướng dẫn kịp thời và tổ chức thực hiện có hiệu quả Phong trào thi đua “Toàn tỉnh chung sức xây dựng nông thôn mới”; tập trung vào các hoạt động nghiên cứu, phát huy sáng kiến trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chính sách, đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới.

Huy động các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh tích cực tham gia, đóng góp về vật chất, chú trọng phát huy nội lực với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng thụ”, tăng cường hoạt động xã hội hóa trong xây dựng nông thôn mới; lắng nghe, tập họp ý kiến nhân dân, tuyên truyền, vận động củng cố, tăng cường sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân để chung sức xây dựng nông thôn mới.

Từng cấp, từng ngành phấn đấu hoàn thành sớm, có chất lượng các chỉ tiêu, nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và tiếp tục nâng cao chất lượng các tiêu chí sau khi đạt chuẩn.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các đoàn thể vận động đoàn viên, hội viên tham gia hưởng ứng tích cực Phong trào thi đua, lồng ghép và gắn với các phong trào thi đua của ngành, đơn vị như: cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”...

Năm 2018, các huyện, thị xã, các ngành liên quan tiến hành sơ kết, đánh giá rút kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện Phong trào thi đua; kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các mô hình, cách làm mới, sáng tạo trong Phong trào thi đua. Đến năm 2020, tiến hành tổng kết và khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Phong trào.

3/10/2017 3:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtUBND tỉnh Bình Dương, Kế hoạch, tổ chức thực hiện, phong trào thi đua, toàn tỉnh chung sức xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2016-2020842-to-chuc-thuc-hien-phong-trao-thi-dua-toan-tinh-chung-suc-xay-dung-nong-thon-moi-giai-doan-2016-202Thông tin chỉ đạo, điều hànhFalsePhương Chi
0.00
121,000
0.40
121000
48,400
Tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ emTăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em

TTĐT - ​UBND tỉnh vừa ban hành văn bản về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em.

​Theo đó, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với các sở, ngành, đoàn thể liên quan và UBND các huyện, thị xã, thành phố tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật Trẻ em năm 2016, Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em, đặc biệt là việc phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em và kịp thời can thiệp, hỗ trợ cho trẻ em khi bị bạo lực, xâm hại; thực hiện tốt quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác nguy cơ, hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em; tăng cường truyền thông về Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em 111 để mọi trẻ em, cá nhân, cơ quan, tổ chức liên hệ khi có nhu cầu tìm kiếm thông tin, thông báo, tố giác tội phạm về bạo lực, xâm hại trẻ em; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Công an tỉnh rà soát hồ sơ, xử lý dứt điểm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em đang tồn đọng, chưa xử lý kịp thời; kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi bao che, chậm trễ, cố tình kéo dài hoặc không xử lý vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em…

6/28/2018 11:00 PMĐã ban hànhTài liệuXem chi tiếtbạo lực trẻ em, xâm hại trẻ em, bảo vệ trẻ em, Luật trẻ em970-tang-cuong-giai-phap-phong-chong-bao-luc-xam-hai-tre-eThông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
282.00
121,000
0.00
121000
34,122,000
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 100/NQ-CP của Chính phủChương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 100/NQ-CP của Chính phủ

TTĐT -  UBND tỉnh Bình Dương vừa ban hành Quyết định số 212/QĐ-UBND về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 100/NQ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021.

Kế hoạch đã cụ thể hóa việc triển khai thực hiện Nghị quyết 100/NQ-CP của Chính phủ đến các ngành, các cấp, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Tập trung nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng quy mô nền kinh tế, đảm bảo phát triển bền vững và tăng trưởng hợp lý; giải quyết tốt các vấn đề xã hội; nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của người dân. Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Xây dựng Bình Dương trở thành đô thị văn minh, giàu đẹp, “Thành phố thông minh” nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, giảm chi phí xã hội và sử dụng tài nguyên hợp lý, đồng thời cải thiện sự giao tiếp, tương tác giữa người dân và chính quyền.

Kế hoạch xây dựng các giải pháp cụ thể thực hiện cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng năng suất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững. Bên cạnh đó, phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền.

Thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố căn cứ những nhiệm vụ và nội dung chủ yếu trong Chương trình hành động này và chức năng, nhiệm vụ được phân công, tổ chức quán triệt và chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động này, đồng thời cụ thể hóa thành các nhiệm vụ của kế hoạch hàng năm nhằm đề ra các giải pháp thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết 100/NQ-CP.

Ngoài những nhiệm vụ được giao trong Chương trình hành động này, các sở, ban, ngành căn cứ các Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 100/NQ-CP do các Bộ, ngành Trung ương ban hành để chủ động xây dựng các kế hoạch, báo cáo UBND tỉnh đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ được giao.

Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy hướng dẫn các cơ quan truyền thông đại chúng có chuyên mục tuyên truyên về nội dung Nghị quyết 100/NQ-CP và Chương trình hành động này.

2/7/2017 5:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtUBND tỉnh Bình Dương, Chương trình hành động, thực hiện, Nghị quyết số 100/NQ-CP, Chính phủ, nhiệm kỳ 2016-2021371-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nghi-quyet-so-100-nq-cp-cua-chinh-phThông tin chỉ đạo, điều hànhFalsePhương Chi
0.00
121,000
0.45
121000
54,450
Kế hoạch tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp tỉnh Bình Dương năm 2017-2018Kế hoạch tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp tỉnh Bình Dương năm 2017-2018

TTĐT - Ngày 12/01/2017, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 99/KH-UBND về việc tổ chức Đại hội Thể dục thể thao (TDTT) các cấp tỉnh Bình Dương năm 2017-2018.

Theo đó, đối với cấp xã, tổ chức thi đấu từ 06 môn thể thao trở lên, thời gian tổ chức trước 31/5/2017. Đối với cấp huyện, tổ chức thi đấu từ 12 môn thể thao trở lên, thời gian tổ chức trước ngày 30/11/2017. Chọn thị xã Tân Uyên làm điểm để tổ chức Đại hội TDTT cấp huyện.

Cấp xã, cấp huyện tùy điều kiện cụ thể lựa chọn tổ chức các môn thể thao được nhân dân yêu thích, các môn thể thao thế mạnh, môn thể thao dân tộc, truyền thống địa phương. Phấn đấu 100% xã, phường, thị trấn và huyện, thị xã, thành phố tổ chức Đại hội TDTT.

Đại hội TDTT cấp tỉnh thi đấu 25 môn, bao gồm 18 môn chính thức (điền kinh, bơi lội, bóng bàn, cầu lông, bi sắt, bi da, thể dục dưỡng sinh, việt dã, cờ tướng, cờ vua, quần vợt, karatedo, taekwondo, võ cổ truyền, vovinam, thể dục thể hình, bóng đá, bóng chuyền) và 7 môn hưởng ứng (đua thuyền, bóng rổ, kéo co, đẩy gậy, aerobic, xe đạp, bóng đá nữ). Thời gian tổ chức trước ngày 31/7/2018; địa điểm do Ban tổ chức Đại hội TDTT cấp tỉnh quyết định.


Đại hội TDTT cấp tỉnh có 25 môn thi đấu gồm 18 môn chính thức và 7 môn hưởng ứng

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp tham mưu UBND tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức Đại hội TDTT cấp tỉnh. Chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức Đại hội TDTT các cấp ở địa phương và các ngành, đơn vị. Lập dự toán trình UBND tỉnh xem xét cân đối kinh phí tố chức Đại hội TDTT cấp tỉnh và tham dự Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VIII trong kế hoạch ngân sách hàng năm. Tham mưu thành lập Ban chỉ đạo Đại hội TDTT các cấp và Ban tổ chức Đại hội TDTT cấp tỉnh lần thứ V năm 2018.

Sở Tài chính và Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu, bố trí nguồn kinh phí tổ chức Đại hội TDTT các cấp tỉnh Bình Dương năm 2017-2018 và tham dự Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VIII, năm 2018.

Các đơn vị lực lượng vũ trang trong tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức Đại hội TDTT; kế hoạch đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đảm bảo công tác phòng cháy, chữa cháy trong quá trình tổ chức Đại hội thể dục, thể thao các cấp tỉnh Bình Dương năm 2017-2018.

Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các Phòng Giáo dục, các trường học và các đơn vị giáo dục trên địa bàn tham gia và hỗ trợ tổ chức Đại hội TDTT các cấp tỉnh năm 2017-2018.

Sở Y tế xây dựng kế hoạch triển khai đảm bảo công tác y tế cho tổ chức Đại hội TDTT các cấp.

Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh và Truyền hình và Báo Bình Dương xây dựng kế hoạch tuyên truyền sâu rộng trong mọi tầng lớp xã hội, nhằm tích cực vận động người dân tham gia tập luyện TDTT, thực hiện tốt Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” và “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

Đề nghị Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Tỉnh Đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh và Hội Người cao tuổi tỉnh phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai thực hiện Kế hoạch tổ chức Đại hội TDTT các cấp.

UBND cấp huyện xây dựng, chỉ đạo thực hiện Kế hoạch và bố trí kinh phí tổ chức Đại hội TDTT các cấp đảm bảo mục tiêu, yêu cầu và thời gian quy định trong Kế hoạch này, phù hợp với tình hình thực tế và điều kiện kinh tế-xã hội của địa phương.

1/18/2017 6:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtKế hoạch, tổ chức, Đại hội Thể dục thể thao, các cấp, tỉnh Bình Dương, năm 2017-2018964-ke-hoach-to-chuc-dai-hoi-the-duc-the-thao-cac-cap-tinh-binh-duong-nam-2017-201Thông tin chỉ đạo, điều hànhFalsePhương Chi
0.30
121,000
0.50
121000
96,800
Tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Bình DươngTăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Bình Dương

TTĐT - UBND tỉnh vừa ban hànhChỉ thị số 29/CT-UBND về việc tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu, trình UBND tỉnh hồ sơ của UBND cấp huyện xin thu hồi và giao đất có nguồn gốc của các Công ty nông, lâm nghiệp cho địa phương quản lý, sử dụng; yêu cầu các tổ chức sử dụng đất có nguồn gốc của các công ty nông, lâm nghiệp lập thủ tục giao đất, thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời phối hợp với các sở, ngành liên quan thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với UBND cấp huyện rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất), xác định những diện tích đất, rừng phòng hộ xung yếu; quy hoạch, đưa diện tích đất, rừng bỏ hoang chưa sử dụng hợp lý trước đây, chuyển sang rừng sản xuất để phát huy hiệu quả kinh tế; đảm bảo lực lượng và kinh phí để quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.

Cục Thuế đề xuất xử lý các kiến nghị về đơn giá thuê đất, thu tiền thuê đất. Thanh tra tỉnh lập kế hoạch, tổ chức thanh tra, kiểm tra đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh.

Sở Tài chính chủ trì xử lý các kiến nghị về giá đất cụ thể, khấu trừ tiền bồi thường đất của các công ty nông, lâm nghiệp. Bố trí kinh phí cho các sở, ngành thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh.

UBND các huyện Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Phú Giáo, Bắc Tân Uyên khẩn trương xây dựng phương án sử dụng đất đối với diện tích ngoài quy hoạch 3 loại rừng; công khai minh bạch Phương án sử dụng quỹ đất các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao cho địa phương đã được phê duyệt trên các phương tiện thông tin đại chúng tại địa phương. Áp dụng các chính sách của Nhà nước để thực hiện Phương án sử dụng đất theo thứ tự ưu tiên như sau: Xây dựng các công trình công cộng; giao đất, cho thuê đất cho hộ gia đình, cá nhân ở địa phương không có đất hoặc thiếu đất sản xuất; giao đất, cho thuê đất đối với người đang sử dụng đất nếu người sử dụng đất có nhu cầu và việc sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.

Các đơn vị quản lý trực tiếp đất nông, lâm trường trên địa bàn tỉnh sử dụng, quản lý đất nông, lâm trường chặt chẽ theo đúng phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Thường xuyên rà soát và kiểm tra hệ thống mốc ranh đất. Tuyên truyền, vận động, thuyết phục người dân ký hợp đồng nhận giao khoán sử dụng đất với đơn vị quản lý trực tiếp. Đối với phần diện tích đất nông, lâm trường đã có văn bản thu hồi để phục vụ công trình, dự án thì các đơn vị nhanh chóng thực hiện quyết định thu hồi đất và liên hệ điều chỉnh diện tích trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các đơn vị lập báo cáo tình hình quản lý, sử dụng đất nông, lâm trường gửi Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 10/12 hàng năm.

12/31/2016 5:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtBình Dương, tăng cường, quản lý đất đai, nguồn gốc, nông trường, lâm trường quốc doanh762-tang-cuong-quan-ly-dat-dai-co-nguon-goc-tu-nong-truong-lam-truong-quoc-doanh-tren-dia-ban-tinh-binh-duonThông tin chỉ đạo, điều hànhFalsePhương Chi
0.00
121,000
0.50
121000
60,500
Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2009Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2009
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kinh tế nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Chính phủ đã và đang đề ra nhiều chính sách, giải pháp nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, ngăn ngừa lạm phát và bảo đảm an sinh xã hội.
Kết quả thực hiện các giải pháp và chính sách 4 tháng đầu năm 2009 bước đầu đang có chuyển biến tích cực. Tình hình cụ thể của từng ngành và lĩnh vực như sau:
 
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
 
Nông nghiệp
 Trọng tâm của sản xuất nông nghiệp tháng này là tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng vụ đông xuân ở các địa phương phía Bắc, thu hoạch lúa và hoa màu ở các địa phương phía Nam. Tính đến trung tuần tháng 4/2009, các địa phương phía Bắc đã gieo cấy được 1140,3 nghìn ha lúa đông xuân, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng đã kết thúc gieo cấy, diện tích đạt 553,3 nghìn ha, tăng 0,9%; các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đạt 337,2 nghìn ha, tăng 1,7%. Một số tỉnh có diện tích lúa tăng khá là: Thanh Hoá tăng 3,4 nghìn ha; Phú Thọ, Bắc Giang và Hà Nội cùng tăng 1,8 nghìn ha; Vĩnh Phúc tăng 1,2 nghìn ha; Nam Định tăng 1,4 nghìn ha; Hà Nam tăng 930 ha. Mặc dù lúa hiện đang phát triển tốt nhưng sâu bệnh đang xuất hiện cục bộ trên các trà lúa. Các địa phương đã chủ động phun thuốc và đang tích cực phòng trừ, ngăn chặn sâu bệnh lây lan trên diện rộng.
 
Tính đến 15/4/2009, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1568,7 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 82,4% diện tích gieo cấy và bằng 92,8% cùng kỳ năm trước. Vùng đồng bằng sông Cửu Long đã cơ bản thu hoạch xong, năng suất ước tính đạt 63,4 tạ/ha, giảm 1 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước, sản lượng đạt 9,8 triệu tấn, giảm 9,6 nghìn tấn.
 
Cùng với thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đã gieo sạ được 346,4 nghìn ha lúa hè thu, bằng 98,5% cùng kỳ năm trước; trong đó đồng bằng sông Cửu Long đạt 319,6 nghìn ha, bằng 92,2%. Tiến độ gieo sạ lúa hè thu chậm chủ yếu do thời vụ thu hoạch lúa đông xuân năm nay chậm hơn năm trước.
 
Tính đến trung tuần tháng 4/2009, cả nước đã gieo trồng được 469,8 nghìn ha ngô, bằng 92,2% cùng kỳ năm trước; 94,9 nghìn ha khoai lang, bằng 84,6%; 160,4 nghìn ha sắn, bằng 105,3%; 171,2 nghìn ha lạc, bằng 96,7%; 86,4 nghìn ha đậu tương, bằng 86,7%; 14,4 nghìn ha thuốc lá, bằng 116,1% và 432 nghìn ha rau đậu, bằng 105,6% so với cùng kỳ năm trước.
 
Chăn nuôi gia súc, gia cầm 4 tháng đầu năm 2009 phát triển ổn định. Đàn bò cả nước ước tính tăng 1-2% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn tăng 3-4%; đàn gia cầm tăng 6-7%. Công tác phòng, chống dịch bệnh tại các địa phương được đặc biệt quan tâm và triển khai kịp thời nên đã thu được kết quả tốt. Dịch lở mồm long móng ở trâu, bò, dịch lợn tai xanh và dịch cúm gia cầm đã được khống chế trên địa bàn cả nước. Riêng dịch tiêu chảy và tụ huyết trùng trên trâu, bò, lợn vẫn xảy ra rải rác tại một số tỉnh như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Quảng Ninh, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Trị, Kon Tum, Tây Ninh, Bạc Liêu. Cơ quan chức năng các địa phương đã triển khai kịp thời công tác tiêm phòng vacxin nên không xảy ra hiện tượng tái phát dịch.
 
Lâm nghiệp
 Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, diện tích rừng trồng tập trung cả nước ước tính đạt 37,3 nghìn ha, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Số cây trồng phân tán đạt 76,2 triệu cây, giảm 2,5%.  Sản lượng gỗ khai thác đạt 606 nghìn m3, tăng 1,9%.
Công tác kiểm lâm tuy được tăng cường nhưng hiện tượng cháy rừng, phá rừng vẫn xảy ra ở nhiều nơi. Bốn tháng đầu năm 2009, diện tích rừng bị thiệt hại 1005,8 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy 490,6 ha. Một số địa phương có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Lạng Sơn 142,8 ha; Yên Bái 136,8 ha; Bình Thuận 51,8 ha. Một số địa phương có diện tích rừng bị chặt phá nhiều là: Lâm Đồng 240,7 ha; Bình Phước 188 ha; Đắk Nông 72,8 ha.
 
Thuỷ sản
Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, tổng sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 1383,1 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó cá đạt 1060,2 nghìn tấn, tăng 4,5%; tôm 118,2 nghìn tấn, tăng 3,6%. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 4 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 580,6 nghìn tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước do người nuôi thiếu vốn đầu tư hoặc chưa ký được hợp đồng tiêu thụ ổn định lâu dài với các doanh nghiệp nên diện tích thả nuôi tăng chậm. Sản lượng thuỷ sản khai thác đạt 802,5 nghìn tấn, tăng 8,8%, mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, chủ yếu do khai thác biển tăng khá, đạt 741,7 nghìn tấn, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt khai thác cá ngừ đại dương được mùa và được giá, trong đó Bình Định khai thác được 2,5 nghìn tấn, tăng 51,5% so với 4 tháng đầu năm 2008; Phú Yên 2,2 nghìn tấn, tăng 15,7%.
 
Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4/2009 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn các mức tăng của 3 tháng đầu năm. Một số sản phẩm chủ yếu có sản lượng tăng cao là: Kính thủy tinh tăng 61,8%; khí hóa lỏng tăng 33%; xà phòng giặt tăng 26%; dầu thô khai thác tăng 21,9%; vải dệt từ sợi tổng hợp tăng 11,1%; phân hóa học tăng 10,6%; thuốc lá tăng 9%; sơn hóa học tăng 8,9%. Đây là dấu hiệu khả quan cho thấy các chủ trương, chính sách đồng bộ và kịp thời của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp trong thời gian qua đã và đang phát huy tác dụng tích cực. 
 
Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm : Khu vực kinh tế Nhà nước giảm 0,9% (Trung ương quản lý tăng 0,4%; địa phương quản lý giảm 5,5%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 6,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,3% (dầu mỏ và khí đốt tăng 15,8%, các sản phẩm khác tăng 1,7%). Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp quan trọng 4 tháng đầu năm 2009 giữ được mức tăng ổn định và có dấu hiệu phục hồi như: Dầu thô khai thác tăng 19,1% so với cùng kỳ năm 2008; xà phòng giặt tăng 12,2%; xi măng tăng 10,2%; thuốc lá điếu tăng 9,5%; bia tăng 9,2%; điện sản xuất tăng 5%; tivi lắp ráp tăng 4,6%; nước máy thương phẩm tăng 4,2%; thép tròn tăng 2,5%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước như: Máy giặt giảm 3,3%; sữa bột giảm 4,7%; thuỷ hải sản chế biến giảm 4,9%; xe máy lắp ráp giảm 5,2%; than sạch khai thác giảm 7,9%; dầu thực vật tinh luyện giảm 11,9%; phân hoá học giảm 12,2%; đường kính giảm 12,7%; kính thuỷ tinh giảm 13,6%; quần áo người lớn giảm 18,3%; vải dệt từ sợi bông giảm 23,7%; giấy, bìa giảm 25,8%; gạch lát ceramic giảm 28,1%; xe chở khách giảm 31,5%.
 
Nhiều địa phương có qui mô sản xuất công nghiệp lớn tuy không duy trì được tốc độ phát triển cao như những năm trước nhưng giá trị sản xuất 4 tháng đầu năm 2009 so với cùng kỳ năm trước vẫn đạt tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung của cả nước như: Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 10,1%; Quảng Ninh tăng 9% ; Khánh Hoà tăng 7,3%; Hải Phòng tăng 7,1%; Đồng Nai tăng 6,9%; Cần Thơ tăng 6,9%; Thanh Hoá tăng 4,2%; Bình Dương tăng 4,1%. Một số địa phương có tốc độ giảm hoặc tăng thấp như: Hải Dương giảm 6,8%; Đà Nẵng giảm 10,7%; Phú Thọ giảm 13,1%; Vĩnh Phúc giảm 15,2% (chủ yếu do liên doanh lắp ráp ô tô giảm mạnh); Hà Nội tăng 3,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,8%.
 
Đầu tư
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện tháng 4/2009 ước tính đạt 8,7 nghìn tỷ đồng, bằng 7,7% kế hoạch năm, bao gồm: Vốn trung ương đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, bằng 7%; vốn địa phương đạt 6,2 nghìn tỷ đồng, bằng 8%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện 28,8 nghìn tỷ đồng, bằng 25,5% kế hoạch năm, gồm có:
 
- Vốn trung ương quản lý đạt 9 nghìn tỷ đồng, bằng 25,3% kế hoạch năm, trong đó: Vốn đầu tư thực hiện của Bộ Công Thương đạt 96,1 tỷ đồng, bằng 40,4% kế hoạch năm; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 200,6 tỷ đồng, bằng 37,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 243 tỷ đồng, bằng 31,6%; Bộ Xây dựng 128 tỷ đồng, bằng 30%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 801,8 tỷ đồng, bằng 27,1%; Bộ Y tế 250,3 tỷ đồng, bằng 24,8% ; Bộ Giao thông Vận tải 1383 tỷ đồng, bằng 22,6%.
 
- Vốn địa phương quản lý đạt 19,8 nghìn tỷ đồng, bằng 25,6% kế hoạch năm, trong đó một số địa phương có tiến độ thực hiện nhanh là: Hòa Bình 409,2 tỷ đồng, bằng 42,3% kế hoạch năm; Bắc Ninh 352,6 tỷ đồng, bằng 41,3%; Hải Phòng 613,8 tỷ đồng, bằng 39,3%; An Giang 234,8 tỷ đồng, bằng 39,3%; Quảng Trị 287,9 tỷ đồng, bằng 37,5%.
 
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20/4/2009 đạt 6,4 tỷ USD, giảm 72,2% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: Vốn đăng ký 2,5 tỷ USD của 145 dự án được cấp phép mới (giảm 87,5% về vốn và giảm 68,7% về số dự án so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung 3,9 tỷ USD của 23 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 4 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 2,2 tỷ USD, giảm 30,2% so với cùng kỳ năm 2008.
 
Các dự án được cấp mới trong 4 tháng đầu năm nay tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dịch vụ với 2,1 tỷ USD, chiếm 84,6% tổng vốn đăng ký; công nghiệp và xây dựng 372,6 triệu USD, chiếm 15%; nông, lâm nghiệp và thủy sản 10,2 triệu USD, chiếm 0,4%.
 
Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam 4 tháng đầu năm 2009, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 957 triệu USD, chiếm 38,5% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Đặc khu HC Hồng Công (TQ) 531,3 triệu USD, chiếm 21,4%; quần đảo Virgin thuộc Anh 484,9 triệu USD, chiếm 19,5%; Xin-ga-po 255,3 triệu USD, chiếm 10,3%; Đài Loan 84,4 triệu USD, chiếm 3,4%. Riêng Hoa Kỳ chỉ đạt 1,2 triệu USD vốn đăng ký cấp mới trong 4 tháng đầu năm 2009, nhưng nếu tính thêm 3801,4 triệu USD vốn đăng ký bổ sung của 3 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước thì tổng vốn đăng ký đạt tới 3802,6 triệu USD.
 
Thu chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước bốn tháng đầu năm 2009 ước tính bằng 31,4% dự toán năm, bao gồm: Thu nội địa bằng 32,4%; thu từ dầu thô bằng 27%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 32,3%; thu viện trợ không hoàn lại bằng 30%.  
Tổng chi ngân sách Nhà nước bốn tháng đầu năm 2009 ước tính bằng 28,5% dự toán năm, bao gồm: Chi đầu tư phát triển bằng 30,1%; chi trả nợ và viện trợ bằng 32,2%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh bằng 32,3%.
 
Thương mại, giá cả, dịch vụ
 
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 360,4 nghìn tỷ đồng, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó: Kinh doanh thương nghiệp đạt 282,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 78,4% tổng số và tăng 22,2%; khách sạn nhà hàng đạt 40,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,3%, tăng 18,4%; dịch vụ đạt 33 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,2% và tăng 16,3%. Nếu loại trừ yếu tố giá thì tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm 2009 tăng 7,4% (cao hơn mức tăng 6,5% của quý I/2009). Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm 2009 của hai thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đạt 127,5 nghìn tỷ đồng, bao gồm Hà Nội đạt 45,1 nghìn tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh đạt 82,4 nghìn tỷ đồng, tăng 18%.
 
Xuất, nhập khẩu hàng hoá
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 4/2009 ước tính đạt 4,5 tỷ USD, giảm 15,3% so với tháng trước và giảm 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên đang có dấu hiệu tích cực với nhiều mặt hàng chủ lực tăng hơn tháng trước như: Điện tử máy tính tăng 28 triệu USD; giày dép tăng 21 triệu USD; thuỷ sản tăng 17 triệu USD; hàng dệt may tăng 11 triệu USD do nhu cầu tiêu thụ những mặt hàng này ở các thị trường chủ lực như Mỹ, EU, Nhật Bản vẫn ổn định.
 
Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 18,6 tỷ USD, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước đạt 10,2 tỷ USD, tăng 26,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trừ dầu thô đạt 6,4 tỷ USD, giảm 8,5%. Nếu loại trừ tái xuất vàng thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2009 giảm 13,5% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng trong 4 tháng đầu năm 2009 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó dầu thô đạt 2 tỷ USD, giảm 44,7% (lượng tăng 20,2%); giày dép đạt 1,2 tỷ USD, giảm 10,8%; thủy sản đạt trên 1 tỷ USD; giảm 7,1%; cà phê đạt 809 triệu USD, giảm 12,6%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 774 triệu USD, giảm 18,1%; điện tử máy tính và linh kiện đạt 707 triệu USD, giảm 7,1%; than đá đạt 389 triệu USD, giảm 9,6% (lượng giảm 11,1%); sản phẩm chất dẻo đạt 238 triệu USD, giảm 11,1%; cao su đạt 219 triệu USD, giảm 45,5%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước là: Hàng dệt may đạt 2,6 tỷ USD, tăng 1,8%; gạo đạt 1,2 tỷ USD, tăng 43,9% (lượng tăng 49,9%); sắn và sản phẩm từ sắn đạt 291 triệu USD, tăng 155,8%.
 
Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu quí I/2009 sang một số thị trường chủ yếu sụt giảm, trong đó: Thị trường Mỹ đạt 2,3 tỷ USD, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước; EU đạt 2,2 tỷ USD, giảm 9,8% (giảm chủ yếu ở các mặt hàng giày dép, thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ); ASEAN đạt 2,1 tỷ USD, giảm 5,8% (dầu thô giảm 41,6%; máy tính, linh kiện, điện tử giảm 26,1%; dây điện và cáp điện giảm 47,1%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 10,3%; riêng gạo tăng 104% và hàng dệt may tăng 27,7%); Nhật Bản đạt 1,3 tỷ USD, giảm 35%.
 
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 4/2009 ước tính đạt 5,2 tỷ USD, tăng 3,1% so với tháng trước nhưng giảm 38,2% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu tháng 4/2009 của một số mặt hàng tăng cao so với tháng trước là: Kim loại thường tăng 114%; bông tăng 84%; gỗ và nguyên liệu gỗ tăng 27%; vải tăng 11%; nguyên phụ liệu giày dép tăng 15%; xăng dầu tăng 12% (giá nhập khẩu xăng dầu tăng 11% so với tháng trước).
 
Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 17,8 tỷ USD, giảm 41% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 11,5 tỷ USD, giảm 45,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,3 tỷ USD, giảm 29,5%. Kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước 4 tháng đầu năm 2009 đều giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 3,4 tỷ USD, giảm 27,3%; xăng dầu đạt 1,7 tỷ USD, giảm 57,3%; vải đạt 1,2 tỷ USD, giảm 7,7%; sắt thép đạt 1,2 tỷ USD, giảm 67,7%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 954 triệu USD, giảm 21%; chất dẻo đạt 694 triệu USD, giảm 31,5%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 599 triệu USD, giảm 19,8%; ô tô nguyên chiếc đạt 12,3 nghìn chiếc, giảm 57,6%; phân bón đạt 466 triệu USD, giảm 33,8%; hóa chất đạt 445 triệu USD, giảm 27,9%; sản phẩm hóa chất đạt 415 triệu USD, giảm 14,5%.
 
Nhập khẩu hàng hoá quý I/2009 từ các thị trường lớn cũng giảm mạnh, trong đó: Thị trường Trung Quốc đạt 2,9 tỷ USD, giảm 31%; ASEAN đạt 2,5 tỷ USD, giảm 51,8% (giảm chủ yếu ở các mặt hàng máy móc, thiết bị, xăng dầu, sắt thép); Nhật Bản đạt 1,4 tỷ USD, giảm 26,3%; EU đạt 1,1 tỷ USD, giảm 18,4%; Mỹ đạt 500 triệu USD, giảm 24%.
 
Nhập siêu tháng 4/2009 ước tính 700 triệu USD, bằng 15,6% kim ngạch hàng hoá xuất khẩu. Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, xuất siêu 801 triệu USD, bằng 4,3% kim ngạch xuất khẩu.
 
Giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2009 tăng 0,35% so với tháng trước, hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ có chỉ số giá tăng nhẹ từ 0,10- 0,48%, trong đó: Giáo dục tăng 0,1%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,2%; dược phẩm, y tế tăng 0,24%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,28%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,43% (Lương thực tăng 0,03%; thực phẩm tăng 0,46%); hai nhóm đồ uống và thuốc lá; nhà ở và vật liệu xây dựng đều tăng 0,45%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,48%. Riêng nhóm văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,64%. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2009 tăng 9,23% so với cùng kỳ năm 2008 và tăng 1,68% so với tháng 12/2008. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng/2009 so với 4 tháng/2008 tăng 13,14%.
 
Chỉ số giá vàng tháng 4/2009 tăng 1,4% so với tháng trước; tăng 7,98% so với cùng kỳ năm 2008 và tăng 17,17% so với tháng 12/2008. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,25% so với tháng trước, tăng 3,88% so với tháng 12 năm trước và tăng 11,21% so với cùng kỳ năm 2008.
 
Vận tải
Vận chuyển hành khách 4 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 638,2 triệu lượt khách, tăng 6,7% và 27,4 tỷ lượt khách.km, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm : Vận tải trung ương đạt 9,6 triệu lượt khách, giảm 15,4% và 7,1 tỷ lượt khách.km, giảm 5,2%; vận tải địa phương đạt 628,6 triệu lượt khách, tăng 7,2% và 20,3 tỷ lượt khách.km, tăng 7,5%. Trong các ngành vận tải, vận tải đường bộ phát triển ổn định, đạt 574,8 triệu lượt khách, tăng 7,3% và 19,5 tỷ lượt khách.km, tăng 7,8%; vận tải đường sông đạt 54,3 triệu lượt khách, tăng 2,3% và 1,1 tỷ lượt khách.km, tăng 1,8%; vận tải đường biển đạt 2 triệu lượt khách, tăng 3,2% và 127,8 triệu lượt khách.km, tăng 5,5%; vận tải đường sắt đạt 3,5 triệu lượt khách, giảm 3% và 1,2 tỷ lượt khách.km, giảm 11,1%; vận tải đường hàng không đạt 3,5 triệu lượt khách, giảm 3,2% và 5,4 tỷ lượt khách.km, giảm 4,4%.
 
Vận tải hàng hóa 4 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 207,9 triệu tấn, giảm 0,8% và 53,3 tỷ tấn.km, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vận tải trung ương giảm 22,5% về số tấn và giảm 7,3% về số tấn.km; vận tải địa phương tăng 0,8% về số tấn và tăng 3,6% về số tấn.km. Trong vận tải hàng hoá, các ngành vận tải đều giảm hoặc tăng ở mức thấp do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, trong đó: Đường sắt giảm 18,5% về khối lượng vận chuyển và giảm 19,5% về khối lượng luân chuyển; tương tự đường hàng không giảm 11,1% và giảm 13%; đường sông giảm 2,3% và giảm 6,6%; đường biển giảm 5,6% và giảm 3,9%; đường bộ tăng 0,4% và tăng 1,4%. 
 
Bưu chính viễn thông
Số thuê bao điện thoại phát triển mới 4 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 9,7 triệu thuê bao, tăng 55,8% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó thuê bao điện thoại cố định đạt 1,4 triệu thuê bao, tăng 62,9%. Số thuê bao điện thoại của cả nước tính đến cuối tháng 4/2009 đạt 89,1 triệu thuê bao, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 53,4 triệu thuê bao. Số thuê bao internet băng thông rộng trên cả nước tính đến cuối tháng 4/2009 ước tính đạt 2,4 triệu thuê bao, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 1,6 triệu thuê bao. Số người sử dụng internet đạt 22,1 triệu người. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông 4 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 24,4 nghìn tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 18,3 nghìn tỷ đồng, tăng 27,1%.
 
Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta 4 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 1297,7 nghìn lượt người, giảm 17,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 797,7 nghìn lượt người, giảm 19,7%; đến vì công việc 219,2 nghìn lượt người, giảm 27,7%; thăm thân nhân đạt 201,7 nghìn lượt người, giảm 1,9%. Khách đến bằng đường hàng không 1120,7 nghìn lượt người, giảm 10% so với cùng kỳ năm 2008; đến bằng đường biển 23,3 nghìn lượt người, giảm 63,1%, đến bằng đường bộ 153,7 nghìn lượt người, giảm 43,1%.
 
Trong 4 tháng đầu năm 2009, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta tăng so với cùng kỳ năm trước là: Hoa Kỳ 152,2 nghìn lượt người, tăng 7,8%; Ôx-trây-li-a 84,8 nghìn lượt người, tăng 1,3%; Ca-na-da 36,2 nghìn lượt người, tăng 6,4%. Bên cạnh đó, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng lớn khách đến Việt Nam nhưng giảm so với cùng kỳ năm 2008 là: Trung Quốc 141,6 nghìn lượt người, giảm 30,1%; Hàn Quốc 134 nghìn lượt người, giảm 26,1%; Nhật Bản 128,7 nghìn lượt người, giảm 10%; Đài Loan 94,2 nghìn lượt người, giảm 15,7%; Pháp 68,2 nghìn lượt người, giảm 0,7%.
 
Một số vấn đề xã hội
 
Thiếu đói trong nông dân
Trong tháng 4/2009 (Tính đến 21/4), theo báo cáo của các địa phương, cả nước có 76,2 nghìn hộ thiếu đói và 344,7 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 0,7% tổng số hộ và 0,7% số nhân khẩu nông nghiệp của cả nước. So với cùng kỳ năm trước, số hộ thiếu đói và nhân khẩu thiếu đói trong tháng 4/2009 đều giảm với tỷ lệ giảm tương ứng là 50,3% và 45%. Tình trạng thiếu đói tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, trong đó Đắk Nông là tỉnh có tỷ lệ số hộ và số nhân khẩu thiếu đói cao nhất với 10,5% số hộ nông nghiệp và 10,7% số khẩu nông nghiệp.
 
Tình hình dịch bệnh
Từ 20/3/2009 đến 20/4/2009, trên địa bàn cả nước có 6,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 3,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 126 trường hợp mắc bệnh viêm gan virút và 66 trường hợp mắc bệnh thương hàn. Tính chung 4 tháng đầu năm 2009, cả nước có 12,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 14,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 1,4 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút và 182 trường hợp mắc bệnh thương hàn.
 
Trước cảnh báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về dịch cúm heo đang diễn biến phức tạp tại Mexico, Bộ Y tế đã có công điện khẩn gửi Sở Y tế, Trung tâm y tế dự phòng, bệnh viện các tỉnh, thành phố trên cả nước yêu cầu tăng cường giám sát, đề phòng dịch cúm heo. Các đơn vị này có nhiệm vụ theo dõi và phát hiện sớm nhất những trường hợp nghi ngờ mắc cúm heo với các biểu hiện về viêm đường hô hấp cấp, viêm phổi.... Đặc biệt chú ý đối với những người di chuyển từ vùng đang xảy ra dịch bệnh trên thế giới tới Việt Nam.
 
Cũng trong tháng 4/2009, tại các tỉnh Hà Giang, Nghệ An, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra 8 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 936 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 7 người tử vong. Như vậy, chỉ trong 4 tháng đầu năm 2009, cả nước đã có 1,7 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 10 người tử vong.
 
Trong tháng đã phát hiện thêm 4,4 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước tính đến 20/4/2009 lên 186,1 nghìn người, trong đó 73,6 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 42,5 nghìn người đã tử vong do AIDS.
 
Tai nạn giao thông
Theo báo cáo của Uỷ ban ATGT quốc gia, từ 01/3/2009 đến 31/3/2009, trên địa bàn cả nước đã xảy ra trên 1055 vụ tai nạn giao thông, làm chết 989 người và làm bị thương 682 người. So với tháng 02/2009, số vụ tai nạn giao thông tăng 19,1%, số người chết tăng 19,6% và số người bị thương tăng 20,5%. So với cùng kỳ năm 2008, số vụ tai nạn giao thông tăng 0,5%, số người chết tăng 1,9% và số người bị thương tăng 10,2%.
 
Tính chung 3 tháng đầu năm 2009, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 3230 vụ tai nạn giao thông, làm chết 3032 người và làm bị thương 2110 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 1,7%, số người chết giảm 0,5% và số người bị thương tăng 1,8%.
 
Thiệt hại thiên tai
Từ 21/3/2009 đến 20/4/2009, thiên tai đã ảnh hưởng mạnh đến sản xuất và đời sống dân cư của 16 tỉnh gồm: Thái Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Điện Biên, Lai Châu, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Tiền Giang và Cần Thơ.
 
Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, thiên tai đã làm sập và tốc mái 9,8 nghìn ngôi nhà; hơn 3 nghìn ha lúa và 2,8 nghìn ha hoa mầu bị hư hỏng. Ước tính tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra là 81 tỷ đồng, trong đó Nghệ An bị thiệt hại nặng nhất với 55,1 tỷ đồng, chiếm 68% tổng giá trị thiệt hại của cả nước. Chính quyền các địa phương đã chỉ đạo các ngành, các cấp khẩn trương thực hiện công tác khắc phục hậu quả sau thiên tai nhằm nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống dân cư.   
 
Khái quát lại, tình hình kinh tế-xã hội nước ta 4 tháng đầu năm 2009 tuy gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng chậm hơn cùng kỳ năm trước, nhưng tháng Tư đang có dấu hiệu phát triển tích cực. Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp quan trọng có xu hướng tăng; xuất khẩu từng bước được đẩy mạnh; giá tiêu dùng ổn định; đời sống dân cư tiếp tục được quan tâm và cải thiện hơn. Để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, cần tập trung làm tốt một số vấn đề trọng tâm sau đây:
 
1. Tiếp tục thực hiện nghiêm và đồng bộ Nghị quyết 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội;
 
2.  Kịp thời đánh giá tình hình quản lý, sử dụng và tác động cũng như hiệu quả gói kích cầu của Chính phủ theo từng Bộ, ngành, lĩnh vực, từng địa phương có liên quan và của cả nước nói chung. Đồng thời các địa phương, các Bộ/ngành khẩn trương rà soát các chính sách hiện hành, đề xuất sửa đổi và bổ sung các chính sách mới kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp;
 
3. Thực hiện tốt Quyết định 58/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ Bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo gỡ khó khăn đối với doanh nghiệp;
 
4. Cần có sự phối hợp chặt chẽ và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các đơn vị sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng nội địa để cùng chia sẻ trách nhiệm, kinh nghiệm, lợi ích và rủi ro. Từ đó tạo cân đối cung cầu hàng hoá hợp lý trên thị trường, làm cơ sở cho sản xuất của từng ngành, từng lĩnh vực phát triển vững chắc và ổn định.
 
5. Các địa phương tiếp tục triển khai mạnh và hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, tạo điều kiện cho đồng bào vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống; đẩy nhanh hoạt động xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá có kiểm tra, giám sát chặt chẽ và đánh giá hiệu quả đạt được.
 
Nguồn: Tổng cục Thống kê
5/11/2009 8:12 AMĐã ban hànhTinXem chi tiết2012-Tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-4-thang-dau-nam-2009Thông tin chỉ đạo, điều hành
Triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy năm 2024Triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy năm 2024

TTĐT - ​Ban Chỉ đạo phòng cháy, chữa cháy (PCCC) và cứu nạn, cứu hộ (CNCH) tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai công tác PCCC và CNCH trên địa bàn tỉnh năm 2024.

​Theo đó, các sở, ban, ngành, địa phương tiếp tục rà soát theo dõi, kiểm tra, giám sát và đôn đốc thực hiện đảm bảo tiến độ, chất lượng các nội dung chỉ đạo của UBND tỉnh về công tác PCCC và CNCH. Xây dựng kế hoạch tăng cường công tác PCCC rừng trên địa bàn tỉnh, nhất là trong mùa hanh khô năm 2024, trong đó chú trọng công tác tuyên truyền, kiểm tra an toàn PCCC, bố trí lực lượng thường trực bảo vệ rừng và xây dựng kế hoạch tổ chức thực tập phương án PCCC rừng đối với các rừng phòng hộ, rừng di tích lịch sử Kiến An. Chủ động phát hoang cây cỏ khô, các bãi phế liệu ở các khu đất trống trong và ngoài các khu cụm công nghiệp để phòng ngừa cháy, nổ trong mùa hanh khô.  

Song song đó, tiếp tục thực hiện các biện pháp nghiệp vụ về PCCC và CNCH; rà soát biên soạn hoàn thiện cụ thể các chuyên đề, nội dung để tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức pháp luật về PCCC, thoát nạn, cảnh báo nguy cơ cháy, nổ trên các phương tiện thông tin đại chúng; duy trì tổ chức các buổi tuyên truyền trực tiếp tại các cơ sở, khu dân cư, trường học, các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh; tăng cường công tác thường trực 24/24 giờ của lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH, lực lượng dân phòng, lực lượng PCCC chuyên ngành, cơ sở; tăng cường năng lực, các trang thiết bị chuyên dụng để chuẩn bị sẵn sàng về lực lượng, phương tiện kịp thời xử lý các tình huống cháy, nổ và sự cố, tai nạn xảy ra ngay từ khi mới phát sinh

Đặc biệt, thực hiện nghiêm các quy định về thẩm định, cấp phép xây dựng, cấp phép kinh doanh đối với các dự án, công trình thuộc đối tượng thẩm duyệt, thiết kế về PCCC; thực hiện chặt chẽ quy trình, quy định về thẩm duyệt thiết kế và nghiệm thu an toàn PCCC đối với các dự án, công trình, đặc biệt là các cơ sở chuyển đổi công năng có nguy cơ cháy, nổ cao, cơ sở có tập trung đông người như vũ trường, quán bar, karaoke, nhà cao tầng,... 

Tiếp tục tăng cường kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn PCCC tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường, giám sát chặt chẽ, tuyệt đối không để các cơ sở đang thi hành quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt động nhưng lén lút hoạt động khi chưa đảm bảo các điều kiện về an toàn PCCC và các điều kiện thoát nạn.  

Kế hoạch ​

3/29/2024 5:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtTriển khai, công tác, phòng cháy, chữa cháy, năm 2024481-trien-khai-cong-tac-phong-chay-chua-chay-nam-202Thông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
509.00
121,000
0.00
121000
0
Phê duyệt Danh mục nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp tỉnh năm 2022 (đợt 1)Phê duyệt Danh mục nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp tỉnh năm 2022 (đợt 1)

TTĐT - ​UBND tỉnh phê duyệt Danh mục nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp tỉnh năm 2022 (đợt 1).

​Theo đó, phê duyệt Danh mục nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấ​p tỉnh năm 2021 (đợt 1) gồm 03 nhiệm vụ.

khcn.png

khcn 1.png

khcn 2.png

​Sở Khoa học và Công nghệ, thành viên các Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ chuyên ngành chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về chuyên môn, tính chính xác, tính pháp lý của toàn bộ hồ sơ, giấy tờ kèm theo và những nội dung liên quan trong việc tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt Danh mục nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp tỉnh năm 2022 (đợt 1) nêu trên.

Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Sở Tài chính, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh và các đơn vị có liên quan tổ chức thông báo các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ theo Danh mục; tuyển chọn các tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và triển khai các bước kế tiếp theo đúng quy định hiện hành; đảm bảo các nhiệm vụ nghiên cứu được triển khai đúng tiến độ, các sản phẩm nghiên cứu đáp ứng yêu cầu đặt ra và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Quyết định ​


9/20/2022 5:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtPhê duyệt, Danh mục, nhiệm vụ, nghiên cứu, khoa học, phát triển, công nghệ, cấp tỉnh, năm 2022, đợt 1765-phe-duyet-danh-muc-nhiem-vu-nghien-cuu-khoa-hoc-va-phat-trien-cong-nghe-cap-tinh-nam-2022-dot-1Thông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
272.00
121,000
0.00
121000
0
Công bố dịch bệnh do vi rút Zika đối với xã, phường thứ hai trên địa bàn tỉnh Bình DươngCông bố dịch bệnh do vi rút Zika đối với xã, phường thứ hai trên địa bàn tỉnh Bình Dương

TTĐT - Ngày 02/11/2016, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 3009/QĐ-UBND về việc công bố dịch bệnh do vi rút Zika quy mô xã, phường trên địa bàn tỉnh Bình Dương.


Theo đó, Phường Đông Hòa, thị xã Dĩ An là xã, phường thứ hai của tỉnh Bình Dương được công bố bệnh dịch do vi rút Zika. 

Giám đốc Sở Y tế, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm phối hợp với các ngành liên quan thực hiện ngay các biện pháp phòng, chống dịch do vi rút Zika theo đúng quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm; tăng cường quản lý, giám sát và theo dõi chặt chẽ tình hình diễn biến dịch bệnh do vi rút Zika trên địa bàn tỉnh; tiếp tục đẩy mạnh công tác vệ sinh môi trường, diệt lăng quăng tại các khu dân cư, các khu nhà trọ và hộ gia đình, không để phát sinh ổ dịch mới.

Sở Y tế có trách nhiệm báo cáo UBND tỉnh và Bộ Y tế về các biện pháp và kết quả phòng, chống dịch bệnh do vi rút Zika trên địa bàn tỉnh.

11/2/2016 5:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtCông bố, dịch bệnh do vi rút Zika, quy mô xã phường, trên địa bàn tỉnh Bình Dương313-cong-bo-dich-benh-do-vi-rut-zika-doi-voi-xa-phuong-thu-hai-tren-dia-ban-tinh-binh-duonThông tin chỉ đạo, điều hànhFalsePhương Chi
0.00
121,000
0.25
121000
30,250
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính các cấpTăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính các cấp

TTĐT - ​UBND tỉnh vừa ban hành văn bản​ về việc tăng cường quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính các cấp; nâng cao ý thức tổ chức, kỷ luật trong cán bộ, công chức, viên chức và người lao động (gọi tắt là Chỉ thị số 26).

Theo đó, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể; UBND các các xã, phường, thị trấn, huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm tăng cường tuyên truyền, phổ biến và thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 26 về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trên địa bàn tỉnh Bình Dương; tập trung nâng cao ý thức trách nhiệm trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; cụ thể hóa trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị, đồng thời xây dựng kế hoạch và tổ chức tự kiểm tra việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; nghiêm cấm cán bộ, công chức, viên chức và người lao động lợi dụng chức năng, nhiệm vụ để gây nhũng nhiễu, phiền hà, trục lợi khi xử lý, giải quyết công việc liên quan đến người dân và doanh nghiệp

Sở Thông tin và Truyền thông chỉ đạo Báo Bình Dương, Đài Phát thanh - Truyền hình Bình Dương và các cơ quan thông tấn, báo chí trên địa bàn tăng cường xây dựng chuyên trang, chuyên mục để đăng tải, đưa tin phản ánh kịp thời tình hình kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị số 26, góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự chuyển biến tích cực trong việc nâng cao chất lượng phục vụ và uy tín của chính quyền các cấp đối với nhân dân, tổ chức và doanh nghiệp; bảo đảm sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật.

Sở Nội vụ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện kỷ luật, kỷ cương tại các cơ quan, đơn vị, địa phương và định kỳ báo cáo về UBND tỉnh.​

6/4/2018 10:00 AMĐã ban hànhTinXem chi tiếtkỷ luật, kỷ cương481-tang-cuong-ky-luat-ky-cuong-trong-cac-co-quan-hanh-chinh-cac-caThông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
424.00
121,000
0.00
121000
51,304,000
Chương trình làm việc tháng 6/2016 của UBND tỉnhChương trình làm việc tháng 6/2016 của UBND tỉnh

TTĐT - UBND tỉnh Bình Dương vừa ban hành Thông báo số 76/TB-UBND về “Chương trình làm việc tháng 6/2016 của UBND tỉnh”.


Theo đó, trong tháng 6/2016, UBND tỉnh sẽ thông qua một số nội dung quan trọng, trong đó có một số nội dung trình kỳ họp giữa năm 2016 (lần 2) - HĐND tỉnh. Cụ thể, từ 06 đến 10/6, thông qua các nội dung: Dừng thu phí bảo trì đường bộ đối với xe mô tô trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Đề án đảm bảo tài chính cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn đến năm 2020; điều chỉnh Quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2016-2017 đến năm học 2019-2020; điều chỉnh, bổ sung, bãi bỏ một số chế độ, chính sách ngành Giáo dục và Đào tạo; Kế hoạch biên chế sự nghiệp ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương năm học 2016-2017; quy định mức chi thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương; mức thu lệ phí hộ tịch trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Từ 13 đến 17/6, thông qua Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016-2025, có xét đến năm 2035; Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2030; Điều chỉnh, bổ sung Nghị quyết số 44/NQ-HĐND8 ngày 11/12/2015 về danh mục dự án, công trình thuộc diện thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất lúa năm 2016 trên địa bàn tỉnh Bình Dương; chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp, tổ chức, nông dân tham gia Dự án Cánh đồng lớn tỉnh Bình Dương; quy định khung giá các loại rừng và giá cho thuê rừng trên địa bàn rừng phòng hộ tỉnh Bình Dương; chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, viên chức Ban quản lý rừng phòng hộ Núi Cậu - Dầu Tiếng.

Từ 20 đến 24/6, thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trung hạn 05 năm 2016-2020; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch điều chỉnh đầu tư công năm 2016; HĐND tỉnh ủy quyền cho Thường trực HĐND tỉnh xem xét quyết định hoặc cho ý kiến chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư công thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh; Kế hoạch Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án tuyến xe buýt nhanh BRT nối Thành phố Mới Bình Dương - Suối Tiên. Ngoài ra, thông qua báo cáo tình hình kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm.

Từ 27 đến 30/6, Chủ tịch, Phó Chủ tịch thông qua báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2015-2016.

5/27/2016 6:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtChương trình làm việc của UBND tỉnh Bình Dương, chương trình làm việc tháng 6/2016224-chuong-trinh-lam-viec-thang-6-2016-cua-ubnd-tinThông tin chỉ đạo, điều hànhFalsePhương ChiPhương Chi
Bố trí thêm lực lượng tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19 để đạt chỉ tiêu 250.000 liều/ngàyBố trí thêm lực lượng tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19 để đạt chỉ tiêu 250.000 liều/ngày

TTĐT - ​​UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành; UBND các huyện, thị xã, thành phố căn cứ nội dung chỉ đạo của Tỉnh ủy tại Thông báo số 202-TB/TU ngày 04/9/2021 để khẩn trương, nghiêm túc thực hiện ngay các nhiệm vụ được giao, đảm bảo kịp thời, hiệu quả và chất lượng.​

Theo đó, ngành Y tế bố trí thêm lực lượng hỗ trợ từ các địa phương, lực lượng quân y, đội ngũ y, bác sỹ, điều dưỡng nghỉ hưu tham gia chiến dịch tiêm chủng để đạt chỉ tiêu 250.000 liều/ngày theo kế hoạch đề ra; tổ chức điều phối đủ, kịp thời vắc xin cho các địa phương, không để thiếu và để người dân phải chờ tại điểm tiêm vì thiếu vắcxin; bố trí các kho vắc-xin dự trữ để cung cấp kịp thời, trường hợp cần thiết bố trí xe đông lạnh để trữ vắc-xin. Người dân ở địa phương nào thực hiện tiêm vắc xin ở đó nhằm hạn chế việc di chuyển qua địa phương khác để thực hiện nghiêm Chỉ thị 16.

Phối hợp với Công an tỉnh và các ngành có liên quan tham mưu Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 tỉnh phương án cho người dân được ra đường đối với trường hợp đã được tiêm 2 mũi và 1 mũi vắc-xin (đã tiêm 20 ngày).

Đồng thời, khẩn trương triển khai thực hiện những chủ trương mà Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 tỉnh đã thống nhất để đảm bảo có đủ thuốc phục vụ cho công tác điều trị nhằm giảm tối đa ca tử vong.

Các địa phương "vùng đỏ", mỗi địa phương bố trí ít nhất 03 Trạm y tế, các địa phương "vùng xanh" mỗi địa phương bố trí 01 Trạm y tế kết hợp với Trạm y tế truyền thống của xã, phường trang bị đủ về phương tiện, nhân lực, vật tư y tế, bình oxy và các loại thuốc điều trị cần thiết,... đảm bảo phục vụ người dân mọi lúc, mọi nơi một cách nhanh nhất. Ngành Y tế có phương án hợp đồng với đội ngũ, y, bác sỹ về hưu tại các địa phương để bố trí nhân lực hỗ trợ thêm cho các Trạm y tế lưu động; tính toán số lượng điều dưỡng còn thiếu tham mưu Ban Chỉ đạo có phương án sử dụng các trường hợp F0 đã khỏi bệnh làm nhân viên điều dưỡng.

Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương, Trường Y của Tổng Công ty Becamex IDC có kế hoạch triển khai đào tạo, bồi dưỡng đối với lực lượng trên để bố trí vào các đội của Trạm y tế lưu động trên địa bàn tỉnh. 

Sở Y tế tổ chức lại bộ máy lãnh đạ​​o của Trung tâm Y tế thành phố Thuận An để đáp ứng yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống dịch. 

Văn bản ​​

9/6/2021 8:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtBố trí, lực lượng, tiêm chủng, vắc xin, Covid-19, chỉ tiêu, 250.000, liều/ngày407-bo-tri-them-luc-luong-tiem-chung-vac-xin-phong-covid-19-de-dat-chi-tieu-250-000-lieu-ngaThông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
507.00
121,000
0.00
121000
0
Triển khai và nhân rộng Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đìnhTriển khai và nhân rộng Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình

TTĐT - ​UBND tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, Kế hoạch được thực hiện nhằm tiếp tục nhân rộng và triển khai các nội dung của “Bộ tiêu chí ứng xử gia đình” đến mọi người dân, hộ gia đình trên địa bàn tỉnh; góp phần nâng cao nhận thức về xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc. Phát huy giá trị tốt đẹp trong các mối quan hệ cơ bản của gia đình và từng bước đưa vào cuộc sống các chuẩn mực giá trị đạo đức, văn hóa con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đồng thời, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030 với mục tiêu “Xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, hạt nhân, tế bào lành mạnh của hội, tổ ấm của mỗi người; nơi    nuôi dưỡng, bồi đắp nhân cách, lối sống tôn trọng đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc; phát huy, nhân rộng các giá trị tốt đẹp góp phần thúc đẩy phát  triển bền vững đất nước”...

Kế hoạch phấn đấu đến năm 2025, đạt 80% hộ gia đình đăng ký thực hiện Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình; 90% hộ gia đình được cung cấp tài liệu về  giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp các sở, ban, ngành, đoàn thể và UBND các huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện Bộ tiêu chí trên địa bàn tỉnh đảm bảo đúng tiến độ, nội dung theo quy định.

Song song đó, tổ chức các hoạt động tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống thông tin cơ sở, cổ động trực quan, không gian mạng, truyền thông trực tiếp tại cộng đồng, thông qua các cuộc thi, hội thi, sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt câu lạc bộ và các hình thức mới thu hút sự quan tâm của đông đảo tầng lớp nhân dân, các gia đình, thành viên trong gia đình.

Đồng thời, tổ chức biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác triển khai thực hiện Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình, các gia đình tiêu biểu, gương điển hình ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh, chị, em đoàn kết thương yêu nhau.

Bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình bao gồm:

+ Tiêu chí ứng xử chung: Tôn trọng, bình đẳng, yêu thương, chia sẻ.

+ Tiêu chí ứng xử của vợ, chồng: Chung thủy, nghĩa tình.

+ Tiêu chí ứng xử của cha mẹ với con, ông bà với cháu: Gương mẫu, yêu thương.

+ Tiêu chí ứng xử của con với cha mẹ, cháu với ông bà: Hiếu thảo, lễ phép.

+ Tiêu chí ứng xử của anh, chị, em: Hòa thuận, chia sẻ.

​Kế hoạch 

8/11/2022 4:00 PMĐã ban hànhTinXem chi tiếtTriển khai, nhân rộng, Bộ tiêu chí, ứng xử, gia đình33-trien-khai-va-nhan-rong-bo-tieu-chi-ung-xu-trong-gia-dinThông tin chỉ đạo, điều hànhFalseĐoan Trang
546.00
121,000
0.00
121000
0
1 - 30Next